|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2025/HSPT Ngày 23-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Ông Trần Bá Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 166/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn C. Sinh ngày 25/07/1972, tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Khu phố L, phường Q, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: 052072007546, cấp ngày 10/6/2022; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Hữu B (đã chết) và bà Hồ Thị H (đã chết). Bị cáo có vợ là Phạm Thị C1 và có 03 con lớn nhất sinh năm 1994 và nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, sau khi đi nhậu cùng bạn bè, bị cáo Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô biển số 77L1- 684.17 đi đến nhà bà Nông Thị L tại khu phố L, phường Q, tỉnh Gia Lai. Bị cáo C thấy nhà bà L khoá cổng nên bị cáo C tự ý mở chốt cổng vào trong sân. Do thấy nhà bà L không có ai ở nhà, không có người trông coi nên bị cáo C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo C dùng chìa khoá mang theo để cạy phá khoá cửa rồi đột nhập vào trong phòng ngủ của bà L, bị cáo C dùng tay giật mạnh hộc tủ nhựa màu hồng, chiếm đoạt 03 sấp tiền Việt Nam rồi bỏ vào túi quần bên phải và bỏ về nhà. Trong lúc đi về bị cáo C làm rớt một sấp tiền có tổng trị giá 190.000 đồng tại sân nhà bà L và được bà L nhặt được giao nộp cho Công an. Sau khi về nhà, bị cáo C đếm lại 02 sấp tiền còn lại là 3.620.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn C chiếm đoạt của bà L là 3.810.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Công an xã N (Nay là Công an phường Q) đã thu giữ từ bị cáo Nguyễn Văn C:
-
- 01 sấp tiền Ngân hàng N gồm: 08 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 200.000 đồng; 07 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng; 22 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 50.000 đồng; 22 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 10.000 đồng.
-
- 01 chùm chìa khóa, gồm: 01 chìa khóa xe mô tô và 01 chìa khóa cửa.
-
- Thu giữ từ bà Nông Thị L 01 sấp tiền Ngân hàng N gồm: 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 50.000 đồng; 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 20.000 đồng; 12 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 10.000 đồng.
-
- 01 thẻ nhớ micro SDHC loại 4GB, bên trong chứa 01 đoạn video.
Ngày 19/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G) đã trả lại số tiền 3.810.000 đồng cho bà Nông Thị L.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nông Thị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
-
-
Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
-
Kháng cáo của bị cáo
Ngày 22-9-2025 bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin được hưởng án treo, có đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận.
-
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và bổ sung đơn xin cứu xét của bị hại Nông Thị L.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo nội dung bản án sơ thẩm, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, sau khi đi nhậu cùng bạn bè, bị cáo Nguyễn Văn C đã lén lút mở chốt cổng vào sân và phát hiện nhà bà Nông Thị L không có ai ở nhà nên bị cáo đã cậy phá khoá cửa vào nhà bị hại mở tủ lấy 03 sấp tiền Việt Nam rồi bỏ vào túi quần, bị cáo làm rớt một sấp tiền có tổng cộng 190.000 đồng tại sân, bị hại nhặt được giao nộp cho Công an. 02 sấp tiền còn lại có 3.620.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 3.810.000 đồng.
Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xác nhận cấp sơ thẩm xử đúng tội, đúng hành vi của bị cáo. Bị cáo không kháng cáo phần này. Do đó, phần tội danh và điều luật áp dụng đã có hiệu lực pháp luật, cấp phúc thẩm không xem xét lại.
-
[2] Về kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Xét bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt đã bồi thường toàn bộ cho bị hại, bị cáo đã biết ăn năn hối hận nên được bị hại làm đơn xin cứu xét có nội dung thấy sau khi phạm tội bị cáo ăn năn hối cãi, quá trình sinh sống giữa bị cáo và bị hại là hàng xóm, bị cáo sống hòa nhã với bà con lối xóm chí thú làm ăn, hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện tại rất khó khăn và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Cho thấy bản thân bị cáo có thể tự cải tạo tại chỗ, dưới sự giám sát của gia đình và địa phương mà không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Do đặc trưng nghề nghiệp chính của bị cáo là hàng ngày giúp việc đi biển, bị cáo không thường xuyên ở trên đất liền, việc áp dụng chế định án treo đối với bị cáo sẽ ảnh hưởng trong quá trình thi hành án. Bên cạnh đó, xét tính chất mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, xử bị cáo hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Bị cáo không có thu nhập ổn định, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
-
[3] Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
[4] Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
-
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai về phần hình phạt
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Gia Lai nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân phường Q, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 115/2025/HSPT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án
