Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-12-2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Văn Nam.
  2. Bà Phan Thị Yến.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 241/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 358/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1991. Địa chỉ: số C N, phường L, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Đoàn Thái Đ, sinh năm 1984. Địa chỉ: số C N, phường L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đ tự nguyện tìm hiểu, rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, tỉnh An Giang và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 36 ngày 13/3/2012.

Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay bà yêu cầu ly hôn ông Đ.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Đoàn Thái K, sinh ngày 19/9/2012 và Đoàn Vi Trần T, sinh ngày 06/11/2018. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung.

Về cấp dưỡng: bà yêu cầu ông Đ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116 Điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc P được ly hôn với ông Đoàn Thái Đ.

Về con chung: Giao cháu Đoàn Thái K, sinh ngày 19/9/2012 và Đoàn Vi Trần T, sinh năm 06/11/2018 cho bà Trần Thị Ngọc P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng: Ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 4.410.000đ/tháng/02 con chung. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày xét xử đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Đ chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông Đ vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà P tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà P yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

[2.2] Về con chung: Bà P và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Đoàn Thái K, sinh ngày 19/9/2012 và Đoàn Vi Trần T, sinh ngày 06/11/2018. Hiện con chung đang chung sống với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Từ khi phát sinh mâu thuẫn ông Đ không cùng bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét yêu cầu của bà P, nguyện vọng của các cháu và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu K và T cho bà P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Trần Thị Ngọc P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Đoàn Thái Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về cấp dưỡng: Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, bà P yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tổi thiểu của thành phố L (nay là phường L, phường M, phường B, xã M) thuộc vùng II là 4.410.000 đồng, ½ lương là 2.205.000 đồng/một cháu/tháng, ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 4.410.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24/12/2024 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động, tiền cấp dưỡng do bà P đại diện nhận. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc P. Bà Trần Thị Ngọc P được ly hôn ông Đoàn Thái Đ.

    1. 2.1. Bà Trần Thị Ngọc P và ông Đoàn Thái Đ có 02 (hai) con chung tên Đoàn Thái K, sinh ngày 19/9/2012 và Đoàn Vi Trần T, sinh ngày 06/11/2018.

    2. 2.2. Giao 02 cháu K và T cho bà Trần Thị Ngọc P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

  2. Bà Trần Thị Ngọc P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở, gây khó khăn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đoàn Thái Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K và cháu T, mỗi tháng 2.205.000 đồng/cháu, 02 cháu là 4.410.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24/12/2024 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động, do bà Trần Thị Ngọc P đại diện nhận. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  5. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005960 ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV9;
  • - Chi cục THADS KV9;
  • - UBND Mỹ Bình (GCN số 36, ngày 13/3/2012);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Nam

Đặng Thị Mỹ Hường

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 115/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P được ly hôn ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger