Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 114/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 02 - 2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Huyền, ông Phạm Cao Gia.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Liên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 495/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Đắk Lắk bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 544/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Vợ chồng ông Ngô Tấn T, sinh năm 1969 và bà Lê Thị N, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk (xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên cũ). Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Tấn T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk (xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên cũ). Có mặt.
  • - Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 và bà Lê Thị P, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk (xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên cũ). Ông H có mặt, bà Phước vắng mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh M. Địa chỉ: C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và từ chối tham gia tố tụng.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Người làm chứng:
    1. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1959. Vắng mặt.
    2. Ông La O giữa, sinh năm 1987. Vắng mặt.
    3. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1959. Vắng mặt.
    4. Ông Y N2, sinh năm 1971. Vắng mặt.
    5. Ông Trương Công T3, sinh năm 1964. Vắng mặt.
    6. Bà Huỳnh Thị Tuyết N3, sinh năm 1980. Vắng mặt.
    7. Ông Nguyễn Văn N4, sinh năm 1950. Vắng mặt.
    8. Ông Nguyễn Trung N5. Vắng mặt.
    Cùng trú tại: thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk.
  • Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn vợ chồng ông Ngô Tấn T, bà Lê Thị N và người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:

Nguyên đơn ông Ngô Tấn T, bà Lê Thị N là chủ sử dụng hợp pháp của 04 thửa đất tọa lạc tại thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk (địa danh cũ thuộc xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên). Các thửa đất này đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) ngày 06/7/2006 và được gia hạn sử dụng đất đến năm 2043 vào ngày 12/7/2022, cụ thể gồm: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 36 (GCN số AE 414242); các thửa đất số 53, 57, 58 thuộc tờ bản đồ số 45 (GCN lần lượt số AE 414249, AE 414250, AE 414251).

Bị đơn bà Lê Thị P là em gái của bà Lê Thị N. Quan hệ sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn diễn ra như sau:

- Giai đoạn 2009 - 2015: Nguyên đơn có ký hợp đồng cho vợ chồng bị đơn (ông H, bà Phước) thuê đất để canh tác với giá 2.600.000 đồng/năm, tuy nhiên giấy tờ thuê hiện nay bị đơn bị thất lạc không tìm thấy. Việc thỏa thuận cho thuê không có người chứng kiến và việc giao nhận tiền cho thuê cũng không lập thành văn bản.

- Giai đoạn từ 2015 đến nay: Do thấy hoàn cảnh gia đình bị đơn khó khăn, lại là chỗ chị em ruột thịt, nên nguyên đơn đã cho bị đơn mượn đất để canh tác mà không thu tiền thuê.

Việc bị đơn đang nắm giữ 04 GCNQSDĐ của mình, nguyên đơn lý giải: Vào năm 2022, sau khi ông Ngô Tấn T1 (con trai nguyên đơn) hoàn tất thủ tục gia hạn sử dụng đất, trên đường về có ghé qua nhà bị đơn. Do bị đơn từng ngỏ ý muốn mua lại đất nên ông T1 đã cho bị đơn xem các Giấy chứng nhận đã gia hạn. Sau đó, vì bận đi kiểm tra rừng nên ông T1 gửi lại 04 Giấy chứng nhận này cho vợ chồng bị đơn giữ hộ, dự định khi xong việc sẽ quay lại lấy. Lợi dụng việc giữ hộ giấy tờ này, bị đơn hiện nay cho rằng đã nhận chuyển nhượng đất từ nguyên đơn là không đúng sự thật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ. Kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy án sơ thẩm và công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn. Bị đơn cho rằng việc chuyển nhượng đất giữa hai bên là có thật (vào năm 2008 và 2011), đã giao đủ tiền, đã nhận bản chính GCNQSDĐ và canh tác ổn định từ năm 2008 đến nay.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc chuyển nhượng (nếu có) bằng lời nói giữa hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quy định bắt buộc về hình thức, thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu. Nguyên đơn không thừa nhận việc chuyển nhượng này. Do đó, không có cơ sở pháp lý để công nhận giao dịch này là hợp pháp.

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Đắk Lắk.

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Ngô Tấn T và bà Lê Thị N. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P.

2.3. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị P phải trả lại các thửa đất số 22, tờ bản đồ 36; thửa đất số 53, 57, 58 tờ bản đồ số 45 mang tên hộ ông Ngô Tấn T và bà Lê Thị N.

Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm 2 TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 15 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Đình Triết
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2026/DS-PT ngày 10/02/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 114/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đất trồng mía của vợ chòngông T bà N,do ông H bà P sử dụng nay ông T bà N kiện đòi lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger