Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 12 - 2025

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn

giữa chị Hường và anh Nghị”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Thái Dương

Bà Vũ Thúy Nga.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã G, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã G, tỉnh Ninh Bình.

(Chị H và anh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/11/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 28/3/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định nay là xã G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh N thường chửi bới, xúc phạm chị, chị phải chịu rất nhiều áp lực về tinh thần. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục được nên chị xin ly hôn anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 07/10/2018 hiện con chung đang ở cùng chị và anh N. Khi ly hôn chị xin tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh N không có tài sản chung, không nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:

Anh nhất trí lời khai của chị H về việc kết hôn, cuộc sống hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý vì mâu thuẫn chưa đến mức ly hôn, anh sẽ có biện pháp thuyết phục để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có một con chung như chị H trình bày. Trong trường hợp ly hôn anh nhất trí để chị H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh sẽ tự cấp dưỡng cho con không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã G như sau: Chị H, anh N trình bày về việc đã được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh N xảy ra mâu thuẫn. Chị H, anh N có 01 con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 07/10/2018. Nay chị H xin ly hôn anh N và yêu cầu giải quyết về con chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị H và anh N; giao con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 07/10/2018 cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Đương sự phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị H và anh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh N kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị H xin ly hôn, anh N không nhất trí ly hôn nhưng lại không đưa ra được biện pháp hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị H và anh N theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 07/10/2018, hiện cháu đang ở với chị H và anh N. Nay chị H xin tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, điều này phù hợp với quan điểm của anh N cũng như nguyện vọng của con chung nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H, anh N đều xác nhận không có tài sản chung, không nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 07/10/2018 cho chị Vũ Thị H tiếp tục trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0002908 ngày 17/11/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Vũ Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- UBND xã Giao Ninh;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Trần Thị Kim Cúc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 113/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị H và anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger