|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 112/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-12-2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hân.
- Ông Võ Thanh Tân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 329/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cư trú: Tổ 39, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Cư trú: Số A, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ X và ông Nguyễn Minh T do tìm hiểu rồi quen biết nhau, sau đó được hai bên gia đình thống nhất ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức đám cưới đến ngày 18/6/2015 ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống tính tình không phù hợp nhau. Nay bà Nguyễn Thị Mỹ X yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ X và ông Nguyễn Minh T có con chung tên Nguyễn Ngọc Giang S, sinh ngày 30/12/2015. Khi ly hôn, bà X đồng ý giao cháu S cho ông T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng: bà đồng ý cấp dưỡng cho cháu S mỗi tháng với số tiền 1.200.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà X được ly hôn ông T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Giang S cho ông Trung trực T1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng bà X tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu S1 mỗi tháng 1.200.000 đồng, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bà X cấp dưỡng nuôi cháu S mỗi tháng 1.200.000 đồng, cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
- Đề nghị giải quyết án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà X và ông T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà X khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn ông T. Ông T vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông T vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà X tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà X yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X.
[2.2] Về con chung: Bà X và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Giang S, sinh ngày 30/12/2015, hiện đang sống chung với ông S, bà X đồng ý giao con chung cho ông T nuôi dưỡng.
Thời gian ly thân, bà X không trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu S có nguyện vọng được sống chung với ông T, nên để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu S cho ông T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ông Nguyễn Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị Mỹ X trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà X tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.200.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định, nên ghi nhận sự tự nguyện của bà X về cấp dưỡng nuôi cháu S mỗi tháng 1.200.000 đồng, cho đến khi cháu S thành niên và có khả năng lao động.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 328, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ X. Bà Nguyễn Thị Mỹ X được ly hôn ông Nguyễn Minh T.
- 2. Về con chung:
- 2.1. Bà Nguyễn Thị Mỹ X và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Giang S, sinh ngày 30/12/2015. Hiện con chung đang sống chung với ông T.
- 2.2. Giao cháu S cho ông Nguyễn Minh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Nguyễn Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị Mỹ X trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà X về cấp dưỡng nuôi cháu S mỗi tháng 1.200.000 đồng, cho đến khi cháu S thành niên và có khả năng lao động.
- 4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- 5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004343 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- 6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hân Võ Thanh Tân |
Lê Thị Hồng Thi |
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND KV9;
- Chi cục THADS KV9;
- UBND Mỹ Phước (GCN số 100, ngày 18/6/2015);
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu HS, VP.
Bản án số 112/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 112/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà X được ly hôn ông T
