Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2025/DS-PT

Ngày 31-12-2025

V/v: Tranh chấp mốc giới, ranh

giới quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Ông Nguyễn Quốc Trường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tử Lượng

Ông Nguyễn Đức Hiệp

-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: Bà Phạm Minh Ngọc- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số139/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Ninh Bình.
  2. Bị đơn: Ông Đinh Thế N, sinh năm 1958 và bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1960; đều có địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường T, tỉnh Ninh Bình.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1986;
    • Địa chỉ: TDP Q, phường T, tỉnh Ninh Bình.
    • - Bà Mai Thị L, sinh năm 1945;
    • Địa chỉ: TDP Q, phường T, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện ủy quyền cho ông D, bà L là ông Nguyễn Văn C.

* Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C.

Tại phiên tòa:

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, ý kiến của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Năm 1993 ông Nguyễn Văn C được nhận vào làm vùng kinh tế mới của nông trường Quỳnh S và được giao đất vào ngày 21/9/1993 với tổng diện tích đất được giao là 11.760m2, trong đó có 250m2 đất ở, có hình thể: phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H dài 485m, phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Chanh D1 dài 475m, phía Đông giáp đường quân sự rộng 25m, phía Tây giáp đất đội 1 nông trường Quỳnh Sơn rộng 24m và phần đất thổ cư nay là thửa 81 rộng là 29m. Sau khi nhận đất gia đình ông đã tiến hành cắm mốc, trồng cây bằng hàng rào cây tờ bi bên nhà ông D1, ông H và tiến hành khai hoang san lấp phần đất mương và con đường lưu không giáp đất nhà ông H nên có bề rộng là 29m. Phía đất nhà ông D1 canh tác được 2 vụ rồi không canh tác sau đó bỏ và ông Q về canh tác cũng được 2 vụ lại bỏ sau đến ông T canh tác 1 vụ lại bỏ. Cuối cùng đến ông N về canh tác từ năm 1995 cho đến nay. Năm 1997 ông vào miền nam công tác thì mẹ và em trai ông canh tác. Năm 2010 gia đình ông N đã phá hàng rào cây tờ bị lấn sang đất nhà ông, sự việc tranh chấp đã diễn ra thời gian dài.

Năm 2015 ông đã phát hiện ông N lấn cả sang phần đất thổ cư và đất trồng lúa của gia đình ông, ông N đã phá hàng rào cây tờ bi, xây hàng rào lấn sang đất gia đình ông. Ông đã do lại thửa đất số 81 nhà ông thì thấy ông N lấn phần đất thổ canh thổ cư một đầu rộng gần 1m chạy dài theo chiều đất từ phía Tây sang phía Nam. Ông đã báo cáo Ủy ban xã nhưng không được giải quyết. Sổ 327 của nông trường Quỳnh S là cấp khống cho ông N, vì năm 1995 ông N mới về ở tại đất này nhưng sổ 327 cấp năm 1994 cho ông N, việc cấp cho ông N không có biên bản giao đất thực địa vào ngày 21/9/1993. T1 dẫy được nông trường Quỳnh Sơn cấp có bề rộng một đầu là 24m(giáp đất đội 1 nông trường Quỳnh Sơn cũ), một đầu 25m(giáp đường quân sự).

Ngày 25/5/2023, UBND xã S phối hợp với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tiến hành đo đạc khảo sát đất nhà ông N kết quả: phần đất nhà ông có bề rộng hai đầu là 28,07m; đất nhà ông N có bề rộng hai đầu là 26,90m. Như vậy so với hồ sơ kỹ thuật thửa đất đo hiện trạng thực tế đã được ông Hà Văn H1 công chức địa chính xã tham mưu với lãnh đạo xã ký vào hồ sơ kỹ thuật thửa đất này nhà ông N có kích thước giáp đường là 26.03m chiều rộng, giáp thửa 83 là 24.97m chiều rộng, như vậy ông N đã lấn sang đất nhà ông là 26, 90m- 26,03m = 0,87m và 26,90m- 24,97m= 1,93m chiều rộng. Theo hiện trạng thực tế sử dụng đất năm 2013 lúc ông N đi làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và theo bản đồ lập năm 2006, lúc nông trường Q giải thể giao lại cho UBND xã S quản lý nhà ông có chiều rộng thửa đất là 29,05m, nhà ông N có chiều rộng là 26,03m. Sự việc tranh chấp đã được U nhưng không thành.

Do vậy ông Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông N phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm sang đất nhà ông C. Cụ thể:

Phải trả lại phần đất đã lấn của thửa 81 tờ bản đồ 04 QS cho ông C có cạnh rộng phía Tây là 0.87m với diện tích là 0.87m+1.93m/2x44m dài = 61,6m2 đất trồng cây lâu năm; trả phần đất đã lấn của thửa 82 tờ bản đồ 04 QS có cạnh rộng phía Tây 0.87m rộng x 141m dài /2 = 61.3m2 đất trồng cây lâu năm. Tổng diện tích ông N phải trả là 61.6m2 của thửa 81 + 61.3m2 của thửa 82 = 122.9m2

Bị đơn là ông Đinh Thế N và bà Đỗ Thị N1 có ý kiến như sau:

Ngày 17/7/1995 gia đình ông được cán bộ quản đốc nông trường Quỳnh Sơn và ban Q1 cùng gia đình ông Đào Văn T2 làm thủ tục bàn giao thửa đất mà hiện gia đình ông đang ở. Khi nhận bàn giao thì số đo của hai thửa đất như sau: Thửa thứ nhất: Phía Bắc giáp đất đội 1 rộng 25m, phía Đông giáp đất nhà ông C dài 200m, phía Năm giáp đất 327 rộng 27m, phía Tây giáp đất H dài 200m. Thửa thứ hai: Phía Bắc giáp đất ở dài 27m, phía Đông giáp rộc dài 25m, phía Nam giáp đất ông C dài 170m, phía Tây giáp hà Ninh dài 170m. Gia đình bắt đầu nhận đất từ 18/7/1995 và chịu mọi nghĩa vụ ruộng đất với nông trường. Việc ông C khởi kiện gia đình ông là không đúng, không có cơ sở vì trên cơ sở bàn giao của nông trường gia đình ông nhận chiều ngang thửa đất giữa đất vườn 327 và đất ở của nhà ông có chiều dài 27m, đến nay đo lại cũng chỉ có 26.90m, thửa thứ nhất có chiều giáp đội 1 là 25m, phía Nam giáp đất 327 là 27m.

* Quan điểm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C: Nhất trí với ý kiến của ông C.

* Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định với diện tích đất tại các thửa 81,82,83,84 bản đồ số 4QS Bản đồ địa chính xã S lập năm 2006.

Căn cứ bản đồ số 4QS Bản đồ địa chính xã S lập năm 2006 thì diện tích của các thửa đất có kích thước như sau:

  • + Thửa đất số 81 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 của gia đình ông Nguyễn Văn C: Có tổng diện tích là 1285m², trong đó 34m² đất ở và 1251m² đất trồng cây lâu năm. Thửa đất có các chiều cạnh: Phía Bắc giáp đường dài 29.05m, phía Nam giáp thửa 82 chia làm hai đoạn dài 24.68m + 3.66m; phía Đông giáp thửa số 80 dài 46.47m; phía Tây dài 44.48m.
  • + Thửa đất số 82 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 của gia đình ông Nguyễn Văn C: Có tổng diện tích là 4659m² đất trồng cây lâu năm. Thửa đất có các chiều cạnh: Phía Bắc giáp thửa 81 chia làm hai đoạn dài 3.66m+24.68m; phía Nam giáp suối dài 25.34m; phía Đông giáp thửa số 79 dài 174.23m ; phía Tây giáp thửa 83 dài 173.50m.
  • + Thửa đất số 84 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 của gia đình ông Đinh Thế N: Có tổng diện tích là 1235m², trong đó 265m² đất ở và 170m² đất trồng cây lâu năm. Thửa đất có các chiều cạnh: Phía Bắc giáp đường dài 26.03m; phía Nam giáp thửa 83 dài 24.97m; phía Đông giáp thửa số 81 dài 44.48m; phía Tây giáp thửa 85 dài 45.85m.
  • + Thửa đất số 83 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 của gia đình ông Đinh Thế N: Có tổng diện tích là 4180m² đất trồng cây lâu năm. Thửa đất có các chiều cạnh: Phía Bắc giáp thửa 84 dài 24.97m; phía Nam giáp suối dài 24.07m; phía Đông giáp thửa số 82 dài 173.50mm ; phía Tây giáp thửa 85 và 86 dài 167.02m.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ như sau:

* Đối với thửa số 81, 82 bản đồ số 4QS, bản đồ địa chính xã S (nay là xã P), huyện N, tỉnh Ninh Bình của gia đình ông Nguyễn Văn C, diện tích và hình thể cụ thể của từng thửa qua đo đạc như sau:

  • -Thửa số 81: Tổng diện tích là 1265m² trong đó có 34m² đất ở và 1.231m² đất trồng cây lâu năm, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường dài 28.12m; Phía Nam giáp thửa 82 dài 28.51m; Phía Đông giáp thửa 80 dài 46.47m; phía Tây giáp thửa 84 dài: 8.36m + 20.95m + 5.61m + 9.55m.
  • - Thửa số 82: Tổng diện tích là 4854.8m² đất trồng cây lâu năm, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa 81 dài 28.51m; Phía Nam giáp Suối dài 24.84m; Phía Đông giáp thửa 79 dài 8.59m + 7.42m + 161.42m; phía Tây giáp thửa 83 dài: 1.79m+11.05m+10.46m+8.20m+22.87m+133.98m.

Như vậy diện tích thửa số 81 trên thực địa so với diện tích trên bản đồ 4QS giảm 20m² đất vườn. Thửa số 82 diện tích tăng 195.8m² đất vườn so với diện tích trên bản đồ 4QS.

* Đối với thửa số 84, 83 bản đồ số 4QS, bản đồ địa chính xã S (nay là xã P), huyện N, tỉnh Ninh Bình của gia đình ông Đinh Văn N2, diện tích và hình thể cụ thể của từng thửa qua đo đạc như sau:

  • -Thửa số 84: Tổng diện tích đo là 1196.6m² trong đó có 265m² đất ở và 931.6m² đất trồng cây lâu năm, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường dài 26.88m; Phía Nam giáp thửa 83 dài 27.08m+ 0.87m; Phía Đông giáp thửa 81 dài 8.36m + 20.95m +5.61m +9.55m; phía Tây giáp thửa 85 dài: 30.84m + 15.01m.
  • - Thửa số 83: Tổng diện tích đo là 4.398.3m² đất trồng cây lâu năm, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa 84 dài 27.08m + 0.87m; Phía Nam giáp Suối dài 24.21m + 0.54m; Phía Đông giáp thửa 82 dài: 1.79+11.05m+10.46m+8.20m+22.87m+133.98m; Phía Tây giáp thửa 85 dài: 41.84m+125.46m

Như vậy diện tích thửa số 84 trên thực địa so với diện tích trên bản đồ 4QS giảm 38.4m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích thửa số 83 trên thực địa so với diện tích trên bản đồ 4QS tăng 218.3m² đất vườn.

Qua xem xét thì ranh giới giữa các thửa của nhà ông C và ông N2 đã được xây dựng, phần diện tích ông C cho rằng ông N2 lấn chiếm hiện nay gia đình ông C đã xây tường rào, gia đình ông N2 đã xây nhà bán mái từ năm 2017. Ranh giới giữa nhà ông N2, nhà ông C với các hộ xung quanh đã được xây tường bao

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc vợ chồng ông Đinh Thế N và bà Đỗ Thị N1 phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Nguyễn Văn C, cụ thể phải trả lại phần đất đã lấn của thửa 81 tờ bản đồ 04 QS cho ông C có cạnh rộng phía Tây là 0.87m với diện tích là 0.87m+1.93m/2x44m dài = 61,6m² đất trồng cây lâu năm; trả phần đất đã lấn của thửa 82 tờ bản đồ 04 QS có cạnh rộng phía Tây 0.87m rộng x 141m dài /2 = 61.3m² đất trồng cây lâu năm. Tổng diện tích ông N phải trả là 61.6m² của thửa 81 + 61.3m² của thửa 82 = 122.9m².
  2. Về án phí dân sự: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và quyền thi hành án cho các đương sự.

* Ngày 30-6-2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình và xét xử lại theo hướng: Chấp nhận đơn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C.

Vì, khi lập sổ 327 cấp năm 1994 là giả mạo hồ sơ, làm khống hồ sơ và ông N không tôn trọng mốc giới cũ, lấn chiếm đất, không có biên bản bàn giao đất thực địa vào ngày 21/9/1993 của Nông trường Q tiến hành đo đất, lập biên bản giao đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người kháng cáo ông Nguyễn Văn C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Thừa nhận không có tài liệu chứng minhh khi lập sổ 327 cấp năm 1994 của Nông trường Q là giả mạo hồ sơ, làm khống hồ sơ. Và không có tài liệu chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
  • - Bị đơn ông Đinh Thế N có ý kiến như sau: Gia đình ông N sử dụng đất cao hơn đất ông C, khi xây dựng tường bao giáp bờ dậu cây tờ bi, bố mẹ ông C và gia đình không có ý kiến gì. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm số Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Đơn kháng cáo của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trong thời hạn luật nên vụ án được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình.

Về án phí: Miễn án phí cho Nguyễn Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trong thời hạn luật nên vụ án được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

[2] Về quá trình sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Văn C và gia đình ông Đinh Thế N:

Thửa số 81 và 82 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn C, hiện nay ông C và em trai ông C là ông Nguyễn Văn D đang sử dụng. Đối với thửa 81 về diện tích đất ở vẫn giữ nguyên, tuy nhiên khi đo đạc lại bằng máy thì giảm 20m² đất trồng cây lâu năm. Đối với thửa số 82 khi đo đạc lại bằng máy thì tăng 195.8m² đất trồng cây lâu năm. Thửa số 83 và 84 tờ bản đồ 4QS Bản đồ địa chính xã S năm 2006 thuộc quyền sử dụng của ông Đinh Thế N, hiện nay ông N và vợ là Đỗ Thị N1 đang sử dụng. Đối với thửa số 84 khi đo đạc lại bằng máy thì bị giảm 38.4m² đất trồng cây lâu năm. Thửa số 83 khi đo đạc lại bằng máy tăng 218.3m² đất trồng cây lâu năm.

Như vậy, cả 4 thửa đều có sự thay đổi về diện tích so với diện tích thể hiện trên bản đồ 4QS xã S (nay là xã P) và sổ vườn 327 của Nông trường Q. Tuy nhiên, vị trí giáp ranh giữa hai gia đình ông C và ông N đã sử dụng ổn định không có tranh chấp về diện tích hay ranh giới từ năm 1995 cho đến nay. Các gia đình không có sự chuyển nhượng trao đổi với ai. Về cơ bản hình thể của các thửa trên thực tế là tương đồng so với hình thể trên bản đồ. Theo cách đo đạc thủ công và dựng hình của Bản đồ địa chính năm 2006 thì hình thể trên thực tế không thể chính xác tuyệt đối, cần tôn trọng hình thể trên thực tế.

Các cơ quan chuyên môn cũng có ý kiến về chuyên môn với diện tích đất tăng, giảm trên thực tế so với diện tích được cấp: Do quá trình đo đạc, trước đây đo thủ công, giờ đo bằng máy. Có thể do nguyên nhân khi giao không đúng hình thể kích thước với hồ sơ giao. Mặt khác cả bốn thửa đất hiện nay đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các hình thể chưa có sự chuẩn hóa và rõ ràng. Quá trình sử dụng đất từ năm 1995 đến năm 2006, không có tranh chấp về ranh giới mốc giới quyền sử dụng đất. Hiện nay, giữa các thửa đất của gia đình ông C và ông N đã được gia đình ông Đinh Thế N xây dựng tường bao kiên cố và một phần công trình nhà ở do ông N xây. Như vậy, đủ căn cứ về mặt pháp lý và thực tế khẳng định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

* Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo ông Nguyễn Văn C không có tài liệu chứng minhh khi lập sổ 327 cấp năm 1994 của Nông trường Q là giả mạo hồ sơ, làm khống hồ sơ. Và không có tài liệu mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình.

[3] Về án phí phúc thẩm: Nguyễn Văn C được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Toà án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 30-6-2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan (nay là Tòa án Khu vực 3), tỉnh Ninh Bình.

  • - Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C được miễn.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TAND Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng THADS KV 3, tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng GĐKTNV-THA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án- VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nguyễn Quốc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 112/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp mốc giới quyền sử dụng đất có nguồn gốc đất Lâm trường, xác định mốc giới theo tài liệu địa chính.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger