Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 12 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Trần Hoàng Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2025/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 235/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà L. Địa chỉ: Ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông D. Địa chỉ: Ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà L trình bày: Bà L và ông D quen biết nhau, tự nguyện tiến đến hôn nhân, vào năm 2007 hai người có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã B1, tỉnh Vĩnh Long). Hai người có 02 người con chung tên X sinh ngày 24/11/2007 hiện đã trưởng thành và Y sinh ngày 08/12/2013 hiện đang chung sống cùng với bà L do hai người đã ly thân gần 06 năm. Thời gian đầu, hai người chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến khoảng đầu năm 2019 thì hai người phát sinh mâu thuẫn cự cãi thường xuyên, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm.

Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn với ông D.

+ Về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Y sinh ngày 08/12/2013 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; người con chung tên X sinh ngày 24/11/2007 hiện đã trưởng thành nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên bà L không yêu cầu giải quyết.

Bà L đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Bị đơn ông D: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D nhưng ông D không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị xét xử vắng mặt thì bà L vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Theo đơn khởi kiện, về hôn nhân, bà L yêu cầu được ly hôn với ông D; về con chung, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, bà L không yêu cầu giải quyết; Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Ông D là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ; Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông D là những người có đủ điều kiện kết hôn, hai người đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã B1, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/5/2007, nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông D là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, bà L trình bày sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến khoảng đầu năm 2019 thì hai người phát sinh mâu thuẫn cự cãi thường xuyên, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm... nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông D. Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù ông D biết được việc bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D nhưng trong những lần Tòa án mời hòa giải thì ông D đều vắng mặt, từ đó mà Tòa án đã không tiến hành hòa giải được; hiện nay giữa bà L và ông D cũng không tìm ra được cách thức để hàn gắn tình cảm và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau. Như vậy, việc bà L và ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay đã sống ly thân với nhau, mỗi người sống ở một nơi và không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của vợ chồng, mặc dù đã được Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hiện nay, bà L vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông D. Vì vậy, việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho bà L được ly hôn với ông D.

[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông D có với nhau 02 người con chung tên X sinh ngày 24/11/2007 và Y sinh ngày 08/12/2013. Chị X hiện đã thành niên, không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà L và ông D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Hiện nay, cháu Y đang sống cùng với bà L và do bà L trực tiếp nuôi dưỡng; bà L có đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y; cháu Y cũng có nguyện vọng được sống chung với bà L trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà L và ông D ly hôn với nhau; việc tiếp tục giao cháu Y cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Y, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giải quyết giao cháu Y cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông D thực hiện các quyền này. Ông D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà L. Trường hợp ông D có các hành vi này thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông D. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông D. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 04/5/2007 do Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C, tỉnh Bến Tre, nay là xã B1, tỉnh Vĩnh Long cấp)

    2. Về con chung:

      Giao người con chung là cháu Y sinh ngày 08/12/2013 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

      Ông D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông D thực hiện các quyền này. Ông D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà L. Trường hợp ông D có các hành vi này thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông D theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.

      Người con chung tên X sinh ngày 24/11/2007 hiện nay đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà L và ông D không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

    3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

    4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

    5. Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005336, ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, bà L đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02);
  • - VKSND KV10-CT (01);
  • - THADS thành phố Cần Thơ (01);
  • - TAND thành phố Cần Thơ (01);
  • - UBND xã B1 (01);
  • - Lưu HSVA, Văn phòng (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 111/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông D. Về con chung: Giao người con chung là cháu Y sinh ngày 08/12/2013 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi)...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger