Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HSST

Ngày 29/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn

Ông Nguyễn Quang Tuyến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ – Thư ký TAND khu vực 8 – Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Xên Bảo Q, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; HKTT: Bản Khổi, xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Xên Văn H và con bà Vi Thị M; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà)

2. Vi Văn H1, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn B và con bà Cầm Thị S; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà)

3. Trần Đình H2, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; HKTT: Xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Bình T và con bà Hoàng Thị T1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 21/2021/HSST ngày 27/5/2021 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn (nay là xã N), tỉnh Nghệ An xử phạt H2 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 251 BLHS năm 2015. Ra trại ngày 05/5/2023, chấp hành xong án phí ngày 28/5/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà)

4. Lý Văn T2, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn B, xã B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn T3 và con bà Lô Thị L; Bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà)

5. Võ Hữu Đức T4, sinh năm 1999; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Đức L1 và con bà Phan Thị H3; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).

* Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn T2: Bà Đặng Thị H4 – Trợ giúp việ pháp lý, Trung tâm T9.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 13/8/2025, tại phòng trọ số 2 tầng 2 dãy nhà trọ của gia đình bà Đinh Thị T5, sinh năm 1962 ở thôn D, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy (PC04) - Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Đ, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Vi Văn H1, Xên Bảo Q, Lý Văn T2, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

+ Trên sàn nhà phòng trọ số 2 gồm: 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng và tinh thể màu trắng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng bám dính chất màu đen 01 ống hút nhựa màu vàng một đầu được cắt vát (Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu M1). 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ được đục 02 lỗ, trên mỗi lỗ được gắn 01 ống hút nhựa, trong mỗi ống hút được nối với giấy bạc làm cóng; 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 loa màu vân gỗ có chữ XM – 520.

+ 01 điện thoại di động Iphone 12 promax lắp sim số 0965.099.349 do Vi Văn H1 tự nguyện giao nộp.

+ 01 điện thoại di động Iphone XS lắp sim số 0963.141.384 do Lý Văn T2 tự nguyện giao nộp.

+ 01 chiếc điện thoại di Iphone X lắp sim số 0971.792.749 do Xên Bảo Quốc tự nguyện giao nộp.

+ 01 điện thoại di động Iphone XR lắp sim số 0965.645.343 do Trần Đình H2 tự nguyện giao nộp.

+ 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax lắp sim số 0971.029.312 do Võ Hữu Đức T4 tự nguyện giao nộp.

Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng trên cùng tang vật về trụ sở Cơ quan CSĐT để giải quyết.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, tại Bản kết luận giám định số 1869/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1058 gam, là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

+ 02 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1965 gam, là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

+ Chất màu đen bám dính trên 01 mảnh giấy bạc màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu Ml gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Không xác định được khối lượng.

+ 01 ống hút nhựa màu vàng có 01 đầu được cắt vát bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Không xác định được khối lượng.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với các đối tượng trên xác định: Vi Văn H1, Xên Bảo Q, Lý Văn T2, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 dương tính với ma tuý Methamphetamine.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ xác định:

Sáng ngày 13/08/2025, Xên Bảo Q, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 ngồi uống bia cùng nhau tại quán B4 thuộc thôn D, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, sau khi uống bia xong Q nói với tất cả mọi người “làm tí nhở”. Ý Quốc muốn rủ mọi người cùng sử dụng ma túy đá, ngựa, Q sẽ bỏ trước ra số tiền 500.000 đồng để mua ma túy. Sau khi sử dụng xong sẽ chia đều mỗi người góp 100.000 đồng tiền mua ma túy để trả cho Q. Lúc này, H1, T2, H2 và T4 cùng đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho 01 người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy ngựa và 200.000 đồng tiền ma túy đá. Người đàn ông đồng ý. Khi đã hỏi mua được ma túy, Q nói với mọi người đã hỏi mua được ma túy thì H1 bảo về phòng trọ của H1 sử dụng cho gần. Sau đó, cả nhóm đi về phòng trọ số 02, tầng 2 dãy nhà trọ nhà bà Đinh Thị T5. Khi Q về đến phòng trọ, người đàn ông bán ma túy gọi điện và bảo Q số ma túy Q cần mua để trong bao thuốc lá Thăng Long ở cột điện ngoài cánh đồng đường đi ra khu công nghiệp Đ. Q một mình đi bộ ra địa điểm đã hẹn để lấy ma túy. Trên đường đi, Q vào quán T10 ống hút nhựa làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi Q đi đến chỗ cột điện thì thấy có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L2, bên trong có: 01 túi nilon màu trắng chứa 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng. Q để 500.000 đồng ở chân cột điện rồi cầm bao thuốc lá Thăng L2 có túi nilon chứa ma túy vừa mua được đi về phòng trọ. Khi về đến dãy nhà trọ của H1, Quốc nhặt một mảnh giấy bạc ở cầu thang để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Q để gói ma túy và giấy bạc ra chiếu dải dưới sàn nhà phòng trọ. Lúc này, Q hỏi H1 “có dụng cụ để sử dụng ma túy không” thì H1 bảo “không có” nên Q lấy 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ có sẵn trong phòng rồi đục lỗ trên nắp chai gắn hai ống hút vào đó làm bình hút ma túy. Tiệp lấy tờ giấy bạc Quốc mang lên, xé một mảnh đưa cho Q để làm máng đựng ma túy. Q cầm lấy xé tiếp một mảnh nhỏ ra quấn tròn lại gắn vào một đầu ống hút nhựa làm cóng hút ma túy. Tiếp đó, Q lấy một ít ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa trong túi nilon chứa ma túy để vào mảnh giấy bạc (là máng đựng ma túy) rồi Q để mảnh giấy bạc đó cạnh một đầu ống hút có gắn giấy bạc được quấn tròn rồi lấy bật lửa đốt nóng phía dưới mảnh giấy bạc để ma túy bên trên bốc lên thành khói rồi hít khói ma túy qua ống hút còn lại trên chai nhựa.

Q sử dụng ma túy xong liền đưa dụng cụ sử dụng ma túy và mảnh giấy bạc chứa ma túy cho H2, H2 tự châm lửa sử dụng ma túy xong thì đưa ống hút cho T4. Triệu sử dụng ma túy xong thì đưa ống cho H1. H1 sử dụng ma túy xong thì đưa ống hút cho T2. Tiệp sử dụng ma túy xong thì đưa ống hút cho Q để Q tiếp tục sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy Q là người cầm mảnh giấy bạc chứa ma túy và châm lửa cho mọi người sử dụng. H1 sử dụng điện thoại di động Iphone 12 promax của mình kết nối điện thoại với chiếc loa có sẵn trong phòng để bật lên cho mọi người nghe nhạc khi sử dụng ma túy. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì tổ công tác tiến hành kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của Xên Bảo Q khai nhận: Sau khi điện thoại Z cho người đàn ông bán ma túy, Q đã xóa hết nhật ký các cuộc gọi điện cũng như không nhớ số điện thoại của người đàn ông này.

Quá trình điều tra các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 67/CT-VKSKV8 ngày 15/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 (khoản 2 đối với H1, T2, T4) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt:

Xên Bảo Quốc từ 07 (B) năm 07 (B1) tháng tù đến 07 (B1) năm 10 (Mười) tháng tù.

Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2 mỗi bị cáo từ 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng đến 07 (Bảy) năm 07 (B1) tháng tù.

Võ Hữu Đức T4 từ 07 (B) năm 02 (hai) tháng đến 07 (Bảy) năm 05 (lăm) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam các bị cáo là ngày 13/8/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Trả lại 01 điện thoại di động Iphone XS lắp sim số 0963.141.384 cho Lý Văn T2; 01 điện thoại di động Iphone XR lắp sim số 0965.645.343 cho Trần Đình H2; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax lắp sim số 0971.029.312 cho Võ Hữu Đức T4, 01 sim số 0965.099.349 cho Vi Văn H1 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 loa màu vân gỗ có chữ XM – 520, 01 điện thoại di động Iphone 12 promax của Vi Văn H1; 01 chiếc điện thoại di Iphone X lắp sim số 0971.792.749 của Xên Bảo Q.

* Tịch thi tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ được đục 02 lỗ, trên mỗi lỗ được gắn 01 ống hút nhựa, trong mỗi ống hút được nối với giấy bạc làm cóng, 01 Phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Lý Văn T2, Vi Văn H1.

Các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của bà Đặng Thị H4 - người bào chữa cho bị cáo Lý Văn T2:

Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố. Tuy nhiên, bị cáo T2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Do vậy, việc tiếp cận và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo là người từ nơi xa đến tỉnh Bắc Ninh mục đích để xin việc làm, hỗ trợ kinh tế gia đình. Bị cáo còn lạ lẫm và chưa có suy nghĩ thấu đáo nên hành động còn bột phát, cảm tính. Sau khi bị bắt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T2.

Các bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh mà chỉ đề nghị Tòa án xem xét để giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tam gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vật chứng được thu hồi đã thể hiện: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 13/8/2025, tại phòng trọ số 02 tầng 2 của Vi Văn H1 thuộc dãy nhà trọ của gia đình bà Đinh Thị T5 ở thôn D, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, bắt quả tang các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 và Vi Văn H1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau. Trong đó, các bị cáo thống nhất cùng chung tiền để mua ma túy về sử dụng; Q là người khởi xướng, ứng tiền, liên lạc trực tiếp mua ma túy về sau đó dầm, đốt lửa làm ma túy tan thành khói và cùng T2 làm công cụ, dụng cụ để mọi người sử dụng ma túy còn H1 sử dụng phòng trọ do mình quản lý, cho các bị cáo cùng sử dụng ma túy.

Do vậy, hành vi cả các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và làm lan tràn tệ nạn nghiện hút. Các bị cáo đều là người trưởng thành và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

[3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng:

Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó, Q là người khởi xướng việc sử dụng ma túy, đã tự nguyện ứng trước số tiền, liên hệ với người bán ma túy và nhận ma túy từ người bán, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy. H1 là người sử dụng phòng trọ của mình để các bị cáo sử dụng ma túy. T2 là người xé mảnh giấy bạc đưa cho Q để làm máng đựng ma túy. Sau đó, các bị cáo thay phiên nhau sử dụng ma túy. Do đó, Q có vai trò chính trong vụ án, tiếp đến là bị cáo H1, T2. Các bị cáo khác đều đồng thuận việc tổ chức sử dụng ma túy và có vai trò ngang nhau trong vụ án. Tuy nhiên, đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

Các bị cáo đều nhận thức được tác hại của chất ma túy, biết được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn bản thân và đưa ma túy trái phép cho người khác để cùng sử dụng nên cần phải cách ly các các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo Q, H1, T2 và T4 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo H2 có nhân thân xấu. Năm 2021, H2 bị xử phạt 30 tháng tù về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã bị pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra. gia đình bị cáo Vi Văn H1 có ông nội là ông Vi Văn K được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Gia đình bị cáo Lý Văn T2 thuộc diện hộ cận nghèo và T2 có ông nội là ông Lý Văn T6 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, ông ngoại là ông Lô Đức T7 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng 3. Em ruột của ông ngoại Lý Văn T2 là ông Lô Văn G - liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và ông Lô Văn T8 - liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Bị cáo T4 có ông nội là ông Võ Văn B2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy, các bị cáo H1, T4 và T2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng ma túy nhưng không có mục đích thu lời bất chính. Các bị cáo đều là lao động tự do, chưa có gia đình riêng, không có thu nhập ổn định và không có tài sản tích lũy nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS lắp sim số 0963.141.384 của Lý Văn T2; 01 điện thoại di động Iphone XR lắp sim số 0965.645.343 của Trần Đình H2; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax lắp sim số 0971.029.312 của Võ Hữu Đức T4 và 01 sim điện thoại số 0965.099.349 của Vi Văn H1 xác định không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho T2, H2, T4 và H1 là phù hợp.

Đối với 01 loa màu vân gỗ có chữ XM – 520, 01 điện thoại di động Iphone 12 promax của Vi Văn H1; 01 chiếc điện thoại di Iphone X lắp sim số 0971.792.749 của Xên Bảo Quốc do có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ được đục 02 lỗ, trên mỗi lỗ được gắn 01 ống hút nhựa, trong mỗi ống hút được nối với giấy bạc làm cóng, 01 Phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định là những vật dụng liên quan đến hành vi sử dụng ma túy và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Xên Bảo Q vào sáng ngày 13/08/2025. Quá trình điều tra, Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể người đàn ông này. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với bà Đinh Thị T5 là chủ nhà đã cho Vi Văn H1 thuê trọ tại phòng 2, tầng 2 khu nhà trọ nhà mình ở thôn D, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh nhưng bà T5 không biết H1 tổ chức sử dụng ma túy cùng các bị khác tại phòng thuê, nên Cơ quan điều tra đã giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo Vi Văn H1 sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Lý Văn T2 thuộc hộ nghèo và sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Xên Bảo Q, Trần Đình H2, Vi Văn H1, Lý Văn T2, Võ Hữu Đức T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 (khoản 2 đối với H1, T4 và T2) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Xên Bảo Quốc 07 (Bảy) năm 07 (B1) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/8/2025.

Vi Văn H1, Trần Đình H2 mỗi bị cáo 07 (Bảy) năm 04 (B3) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/8/2025.

Lý Văn T2 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/8/2025.

Võ Hữu Đức T4 07 (B) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 13/8/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Xên Bảo Q, Vi Văn H1, Trần Đình H2, Lý Văn T2 và Võ Hữu Đức T4 mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Trả lại: Lý Văn T201 điện thoại di động Iphone XS lắp sim số 0963.141.384; Trần Đình H2 01 điện thoại di động Iphone XR lắp sim số 0965.645.343; Võ Hữu Đức T4 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax lắp sim số 0971.029.312; Vi Văn H1 01 sim điện thoại số 0965.099.349. Những tài sản này được tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 loa màu vân gỗ có chữ XM – 520, 01 điện thoại di động Iphone 12 promax của Vi Văn H1; 01 chiếc điện thoại di Iphone X lắp sim số 0971.792.749 của Xên Bảo Q.

* Tịch thi tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa màu đỏ, 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ được đục 02 lỗ, trên mỗi lỗ được gắn 01 ống hút nhựa, trong mỗi ống hút được nối với giấy bạc làm cóng, 01 Phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Bắc Ninh).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 22, 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc các bị cáo Xên Bảo Q, Trần Đình H2 và Võ Hữu Đức T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí HSST cho các bị cáo Vi văn H1 và Lý Văn T2.

Các bị cáo, người bào chữa có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh
  • - Phân trại Tiên Du, CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HSST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xên Bảo Q và đp- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger