|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-12-2025 V/v “Tranh chấp về ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Hân.
- 2. Ông Võ Thanh Tân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 330/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Cư trú: Tổ 02, khóm N, phường C, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Cư trú: Cồn P, ấp M, xã M, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Nguyễn Văn S do tìm hiểu rồi quen biết nhau, sau đó được hai bên gia đình thống nhất ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức đám cưới vào năm 2005, nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống tính tình không phù hợp nhau. Nay bà Nguyễn Thị Tuyết L yêu cầu Toà án giải quyết việc hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Văn S theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng ông bà có con chung tên Nguyễn Thị Ngọc G, sinh ngày 26/7/2006 hiện con chung đã thành niên, có khả năng lao động và tự lập được, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông bà tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 9, Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông S.
- - Về con chung: Bà L và ông S có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc G, sinh ngày 26/7/2006, đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
- - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, tại biên bản xác minh thể hiện bị đơn đang sinh sống tại xã M, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông S chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay tình cảm không còn bà L yêu cầu ly hôn ông S. Ông S vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Xét, bà L và ông S sống với nhau như vợ chồng, đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là không phù hợp quy định pháp luật tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn và bà L yêu cầu ly hôn. Ông S đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng ông S vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy ông S không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng, nên bà L yêu cầu ly hôn ông S là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, bà L và ông S không đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng của ông bà.
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc G, sinh ngày 26/7/2006, đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Tuyết L với ông Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc G, sinh ngày 26/7/2006, đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004430, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hân Võ Thanh Tân |
Lê Thị Hồng Thi |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L được ly hôn ông S
