|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2026/DS-PT Ngày 07 tháng 01 năm 2026 V/v tranh chấp “Chia di sản thừa kế”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết, ông Hoàng Ngọc Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 369/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025, tranh chấp “Chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025, của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 349/2025/QĐXX-PT ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
- + Ông Đào Văn H, sinh năm 1965. Địa chỉ: số H, đường A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (có mặt)
- + Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1967. Địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T (Y), sinh năm 1976. Địa chỉ: tổ D, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (SĐT: 0918.535.146) (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965 (chết năm 2021). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2:
- Ông Lê Văn D, sinh năm 1966;
- Anh Lê Văn H3, sinh năm 1991; (có mặt)
- Chị Lê Thị Mỹ T1, sinh năm 1995;
- Cháu Nguyễn Khánh D1, sinh năm 2002.
- Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1970. Địa chỉ: số I, tổ D, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1972 (chết năm 2022). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T2:
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1966;
- Chị Lê Thị Tài L1, sinh năm 1992;
- Chị Lê Thị Cẩm L2, sinh năm 1993;
- Chị Lê Thị T3, sinh năm 1996;
- Anh Lê Văn T4, sinh năm 1999.
- Bà Nguyễn Thị Kim T5, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Cần Thơ. (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1978. Địa chỉ: số B, ấp H, xã P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Trung N1, sinh năm 1981. Địa chỉ: số I, tổ D, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bà Nguyễn Trúc M1, sinh năm 1983. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1989. Địa chỉ: số I, tổ D, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1967. Địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà M:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Ông Huỳnh Thảo L – Luật sư văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. Địa chỉ văn phòng: số A, đường T, tổ A, khóm B, phường L, tỉnh An Giang. (có mặt)
2
Đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thu T có ông Đặng Văn S sinh năm 1990; địa chỉ nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 06/8/2025). (có mặt)
Cùng địa chỉ: số I, tổ D, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. SĐT: 0917.779907. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số A, ấp H, xã C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn C, bà Lê Thị Tài L1, Lê Thị Cẩm L2, Lê Thị T3, Lê Văn T4: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền bà Á, T5: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
3
Người đại diện theo ủy quyền bà M1: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988. Địa chỉ: số D, đường số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền ông T6 gồm:
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị Thu T là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn trình bày: Ông Nguyễn Trung T7 (chết năm 1993) và bà Nguyễn Thị Thu L3 (chết năm 2024) là cha mẹ có 10 người con gồm: Nguyễn Thị H2, Nguyễn Trung N, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Thị Á, Nguyễn Trung N1, Nguyễn Thị Kim T5, Nguyễn Trúc M1, Nguyễn Thị M, Nguyễn Trung T6. Bà H2 chết năm 2021 có chồng là Lê Văn D, các con: Lê Văn H3, Lê Thị Mỹ T1, Nguyễn Khánh D1; bà T2 chết năm 2022 có chồng là Lê Văn C, các con Lê Thị Tài L1, Lê Thị Cẩm L2, Lê Thị T3, Lê Văn T4.
Ông T7, bà L3 có tạo lập được diện tích đất lúa 3.368m² và diện tích 1.751,5m² đất ở và cây lâu năm tọa lạc tại phường B, Tp ., tỉnh An Giang. Sau khi ông T7 chết thì bà Nguyễn Thị Thu L3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đại diện hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Trung T7, bao gồm:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01021 ngày 17/3/2011, thửa đất 39, tờ bản đồ số 77 diện tích 1.751,5m², trong đó đất ở 600m², đất cây lâu năm: 1.151,5m².
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01022 ngày 17/3/2011, thửa đất 95, tờ bản đồ số 77 diện tích 3.368m².
Ngày 02/01/2024, bà L3 lập di chúc được công chứng tại Văn phòng C1, theo đó bà L3 để lại cho bà M 50% quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung của vợ chồng và suất thừa kế được hưởng từ di sản của người chồng đối với 02 quyền sử dụng đất nêu trên.
Sau đó, một số anh chị em của bà M có thỏa thuận với bà M về việc chia di sản thừa kế đối với phần di sản của ông T7 là 50% còn lại của quyền sử dụng đất, theo đó:
4
- - Ngày 06/02/2024 ông Nguyễn Trung T6 giao lại kỷ phần của ông cho bà Nguyễn Thị M và nhận số tiền 250.000.000đ. Thỏa thuận này lập thành văn bản chứng thực tại Văn phòng C1 và giao nhận tiền theo biên nhận ngày 06/02/2024.
- - Ngày 31/5/2024 bà Nguyễn Thị Á giao lại kỷ phần của bà cho bà Nguyễn Thị M và nhận số tiền 180.000.000đ. Thỏa thuận này lập thành văn bản chứng thực tại Văn phòng C1 và giao nhận tiền theo biên nhận ngày 31/5/2024.
- - Ngày 05/6/2024 ông Nguyễn Trung N giao lại kỷ phần của ông cho bà Nguyễn Thị M và nhận số tiền 250.000.000đ. Thỏa thuận này lập thành văn bản chứng thực tại Văn phòng C1 và giao nhận tiền theo biên nhận ngày 05/6/2024.
- - Ngày 17/9/2024 bà Nguyễn Trúc M1 giao lại kỷ phần của bà cho bà Nguyễn Thị M và nhận số tiền 180.000.000đ. Thỏa thuận này lập thành văn bản chứng thực tại Văn phòng C1 và giao nhận tiền theo biên nhận ngày 17/9/2024.
Nay, bà M khởi kiện yêu cầu di sản thừa kế của cha mẹ là ông Nguyễn Trung T7 và bà Nguyễn Thị Thu L3 để lại như sau:
- - Phần di sản của bà Nguyễn Thị Thu L3: yêu cầu chia theo di chúc ngày 02/01/2024 của bà Nguyễn Thị Thu L3, cho bà Nguyễn Thị M được hưởng 50% quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung của ông T7, bà L3.
- - Phần di sản của ông Nguyễn Trung T7: yêu cầu chia theo quy định pháp luật làm 11 kỷ phần thừa kế (gồm 10 người con và bà L3). Trong đó, ngoài suất thừa kế bà M được hưởng thì bà M còn yêu cầu được nhận suất thừa kế của bà L3 theo di chúc ngày 02/01/2024 và suất thừa kế của các ông bà Nguyễn Trúc M1, Nguyễn Trung N, Nguyễn Thị Á, Nguyễn Trung T6.
Bà M yêu cầu được nhận hiện vật là toàn bộ diện tích đất và đồng ý hoàn giá trị lại cho các suất thừa kế còn lại là Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Trung N1, Nguyễn Thị Kim T5.
Đối với 04 khu mộ trên diện tích đất, bà đồng ý trừ diện tích phần khu mộ và giữ nguyên diện tích các khu mộ theo bản trích đo hiện trạng khu đất. Việc chia thừa kế chỉ chia đối với phần diện tích đất còn lại sau khi trừ diện tích khu mộ.
Đối với căn nhà (nhà A, nhà 2 và kho – vị trí cây đài) của cha mẹ để lại thì chia theo quy định pháp luật, bà nhận nhà và hoàn giá trị cho các hàng thừa kế còn lại.
Về căn nhà (nhà 3 và nhà kho) của ông D thì bà đồng ý hoàn giá trị lại cho ông D, do hiện gia đình ông D không có sinh sống tại căn nhà này, cả gia đình đều đi làm ở Bình Dương.
Bà có nơi sinh sống ổn định nhưng bà muốn được nhận đất để làm lại phủ thờ và làm nơi hương quả cho ông bà, để sau này con cháu có nơi lui tới nhang khói. Đồng thời phần thừa kế bà được hưởng theo di chúc và phần thừa kế của các anh chị em nhượng lại cho bà thì diện tích đất đã chiếm phần lớn nên giao cho bà quản lý sử dụng sẽ thống nhất với ý muốn của mẹ và các anh chị em.
5
Về giá trị tài sản, bà M đồng ý với giá định theo Chứng thư thẩm định giá số 134-2025/CT-VVAC ngày 18/3/2025 của Công ty CP T8.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế của cụ L3, cụ T7 và hàng thừa kế của bà T2, bà H2 và thống nhất về di sản của cụ L3, cụ T7 để lại.
Về yêu cầu khởi kiện của bà M thì bà không đồng ý, do di chúc của bà L3 để lại cho bà M là không đúng về thủ tục công chứng, do khi công chứng không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc đó bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang do ông N1 giữ, về việc này thì bà T xác định nhưng bà T không có chứng cứ gì chứng minh thời điểm công chứng di chúc không có bản chính giấy chứng nhận. Do thời điểm đó có tranh chấp về việc đòi bản chính giấy chứng nhận nên có hòa giải tại khóm, phường B, lúc đó có giấy mời nhưng không có biên bản, chỉ có biên bản ngày 28/12/2023.
Nay bà yêu cầu công nhận di chúc của bà L3 để lại cho ông N1 ngày 15/11/2023 và yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc này, đồng thời ông T6 có bán phần đất của ông T6 cho bà T. Do đó bà yêu cầu chia cho bà T 01 suất thừa kế trong di sản của cụ T7 và 01 suất thừa kế của ông T6 trong di sản của cụ T7, bà T yêu cầu được nhận đất.
Trước đây bản chính giấy chứng nhận do bà T giữ, sau này khi làm di chúc cho ông N1 thì bà T giao lại cho ông N1 giữ, khi mẹ chết bà T có nghe việc mẹ để lại di chúc cho bà M, lúc đó bà T có ra ủy ban để xem về việc niêm yết, bà cũng không nói ra việc ông N1 có di chúc.
Việc bà T và ông T6 bán đất thì có làm giấy tay có mẹ là bà L3 ký xác nhận theo tờ bán đất ngày 18/12/2018, không có công chứng hợp đồng. Lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn do bà L3 đại diện đứng tên, chưa thỏa thuận phân chia thừa kế, chưa tách thửa sang tên.
Trên diện tích đất có 02 căn nhà gồm 01 nhà của bà H2 hiện đang khóa cửa, 01 căn của cha mẹ để lại do ông N, ông N1 đi làm ở Bình Dương, đi đi về về và ông T6 đang sinh sống. Đất ruộng do ông T6 đã múc lên làm đất vườn, hiện đang trồng dừa.
Bà yêu cầu phản tố: yêu cầu công nhận di chúc của bà L3 để lại cho ông N1 ngày 15/11/2023 và yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc này, đồng thời ông T6 có bán phần đất của ông T6 cho bà. Do đó bà yêu cầu chia cho bà 01 suất thừa kế trong di sản của cụ T7 và 01 suất thừa kế của ông T6 trong di sản của cụ T7 với giá trị tài sản là khoảng 100.000.000 đồng. Phần bà được hưởng bao nhiêu thì bà yêu cầu được nhận đất.
Về diện tích 04 khu mộ thì đồng ý trừ diện tích 04 khu mộ ra, không chia thừa kế đối với 04 khu mộ và giữ nguyên hiện trạng.
Đối với căn nhà cha mẹ để lại (nhà số A, số B) theo bà thì căn nhà này ngoài ông T6, ông N sinh sống thì ông N1 cũng có sinh sống tại nhà này, do ông N1 đi làm
6
ở Bình Dương, mỗi khi về thì đều sinh sống tại nhà này. Bà có ý kiến khi chia thừa kế thì giao nhà gắn liền với đất này cho ông N1 quản lý sử dụng, để làm phủ thờ cha mẹ.
Đối với căn nhà của ông D thì bà T có ý kiến như sau: khi chia thừa kế theo quy định, ông D và các con được hưởng suất thừa kế của bà H2 thì bà T đề nghị cho ông D và các con được ưu tiên nhận đất để tiếp tục ổn định sử dụng căn nhà (nhà C, chuồng gà) gắn liền với diện tích đất được thể hiện bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 13/01/2025. Đối với kho và các bó nền còn lại thì bà không có ý kiến, yêu cầu chia theo quy định pháp luật.
Bà đã có nơi sinh sống ổn định nhưng bà muốn được nhận đất để giữ lại phần đất của cha mẹ làm kỷ niệm cho con cháu.
Về giá trị tài sản, bà đồng ý với giá định theo Chứng thư thẩm định giá số 134-2025/CT-VVAC ngày 18/3/2025 của Công ty CP T8.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung N1 trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế của cụ L3, cụ T7 và hàng thừa kế của bà T2, bà H2 và thống nhất về di sản của cụ L3, cụ T7 để lại.
Về yêu cầu khởi kiện của bà M thì ông không đồng ý, ông yêu cầu công nhận di chúc ngày 15/11/2023 công chứng tại Văn phòng C2 và yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L3 theo di chúc này và yêu cầu chia di sản của cụ T7 theo quy định pháp luật và ông yêu cầu được nhận phần thừa kế của ông N, như vậy ông hưởng trọn di sản của cụ L3 và 03 kỷ phần thừa kế của cụ T7, tổng trị giá tài sản là 650.000.000 đồng.
Từ khi lập di chúc ngày 15/11/2023 thì ông N1 đã giữ bản chính di chúc và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay, nên phía bà M không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; do đó việc công chứng di chúc của bà M là không đúng quy định, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Về di chúc của bà M thì khi mẹ chết thì các anh chị em trong nhà có nghe nói và có biết là đã niêm yết ở Ủy ban, nhưng do ông đi làm nên ông không có ra ủy ban để xem và lúc đó ông N1 cũng không có nói ra với anh chị em trong nhà về việc ông có di chúc, do mẹ có dặn là khi nào ra Tòa thì mới đưa di chúc ra.
Việc ông N1 và ông N bán đất thì có làm giấy tay có mẹ là bà L3 ký xác nhận theo tờ bán đất ngày 05/5/2020, không có công chứng hợp đồng. Lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn do bà L3 đại diện đứng tên, chưa thỏa thuận phân chia thừa kế, chưa tách thửa sang tên.
Ông N1 yêu cầu công nhận di chúc ngày 15/11/2023 công chứng tại Văn phòng C2 và yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L3 theo di chúc này và yêu cầu chia di sản của cụ T7 theo quy định pháp luật và ông yêu cầu được nhận 100m² đất vườn tạp của ông N, khi ông N được hưởng thừa kế.
Ông đồng ý với ý kiến của bà T về việc chia thừa kế, yêu cầu được nhận nhà đất, do hiện ông đi làm ở Bình Dương mỗi lần về đều về nhà cha mẹ sinh sống, chưa
7
có nơi sinh sống nào khác. Về khu mộ, đồng ý không chia thừa kế diện tích khu mộ, về nhà ông D đồng ý khi chia thừa kế ưu tiên ổn định cho ông D, hiện ông D cũng đi làm ở Bình Dương, đi đi về về, khi về thì sống tại nhà đất này.
Về giá trị tài sản, bà đồng ý với giá định theo Chứng thư thẩm định giá số 134-2025/CT-VVAC ngày 18/3/2025 của Công ty CP T8.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Khánh D1 trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế của cụ L3, cụ T7 và hàng thừa kế của bà T2, bà H2 và thống nhất về di sản của cụ L3, cụ T7 để lại.
Trên diện tích đất có căn nhà của bà H2 – mẹ của ông, nay ông không có yêu cầu gì trong vụ án, Tòa án xem xét giải quyết chia bao nhiêu thì gia đình ông hưởng bấy nhiêu.
Về yêu cầu, ý kiến trình bày của các bên thì ông yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T6, ông N, bà M1, bà Á, ông C, bà Cẩm L2, bà Tài L1, bà T3, ông T4 – bà Nguyễn Thị M trình bày:
Thống nhất yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị M, thống nhất giao toàn bộ phần thừa kế của các ông bà được chia cho bà M được hưởng. Không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T5 trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế của cụ L3, cụ T7 và hàng thừa kế của bà T2, bà H2 và thống nhất về di sản của cụ L3, cụ T7 để lại.
Về yêu cầu của hai bên thì Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với phần di sản của ông T7 để lại, Tòa án chia bao nhiêu thì bà hưởng bấy nhiêu. Không có yêu cầu độc lập.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang đã xử:
- - Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 624, Điều 627, Điều 628, Điều 630, Điều 635, Điều 636, Điều 640, Điều 643, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652, Điều 659, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 56, Điều 57 Văn bản hợp nhất 07/VBHN- VPQH 2018 Luật Công chứng; Căn cứ Điều 58, Điều 59 Luật Công chứng 2024;
- - Căn cứ Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
8
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu T, yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung N1 về việc yêu cầu chia di sản của cụ T7 theo quy định pháp luật làm 11 kỷ phần.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu T, yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Trung N1 về việc yêu cầu công nhận hiệu lực di chúc ngày 15/11/2023 và yêu cầu nhận suất thừa kế của ông T6, ông N.
Công nhận hiệu lực di chúc ngày 02/01/2024 của bà Nguyễn Thị Thu L3 được công chứng tại Văn phòng C1.
Xác định di sản thừa kế của cụ L3, cụ T7 để lại gồm:
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 95, tờ bản đồ số 77 diện tích 3.368m² tọa lạc phường B, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01022 do UBND Tp.Long Xuyên cấp ngày 17/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Thu L3 đại diện.
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 39, tờ bản đồ số 77 diện tích 1.751,5m² tọa lạc phường B, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01021 do UBND Tp.Long Xuyên cấp ngày 17/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Thu L3 đại diện.
- - Căn nhà 1 tại các điểm 104, 105, 140, 141, 26, 25; căn nhà 2 tại các điểm 29, 104, 25, 24; nhà kho tại các điểm 7, 8, 142, 87; nhà bếp tại các điểm 32, 33, 102, 143 theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 13/01/2025 gắn liền với thửa đất 39, tờ bản đồ số 77.
Giao cho bà Nguyễn Thị M được toàn quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất và vật kiến trúc gắn liền với đất được thể hiện tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 13/01/2025 do Trung tâm Q lập, gồm:
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 95, tờ bản đồ số 77 diện tích 3.368m² tọa lạc phường B, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01022 do UBND Tp.Long Xuyên cấp ngày 17/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Thu L3 đại diện.
- - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 39, tờ bản đồ số 77 diện tích 1.751,5m² tọa lạc phường B, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01021 do UBND Tp.Long Xuyên cấp ngày 17/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Thu L3 đại diện.
- - Căn nhà 1 tại các điểm 104, 105, 140, 141, 26, 25 (dt 75,6m²); căn nhà 2 tại các điểm 29, 104, 25, 24 (dt 52,4m²); nhà kho tại các điểm 7, 8, 142, 87; nhà bếp tại các điểm 32, 33, 102, 143; nhà 3 tại các điểm 51, 52, 59, 134; sàn gỗ tại các điểm 57, 58, 59, 137; nhà kho tại các điểm 47, 48, 49, 50.
Bà Nguyễn Thị M được quyền liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với toàn bộ nhà, vật kiến trúc và đất thể hiện tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 13/01/2025 do Trung tâm Q lập.
9
Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ hoàn cho bà Nguyễn Thị Kim T5, ông Nguyễn Trung N1, bà Nguyễn Thị Thu T mỗi người số tiền: 277.991.100 đồng/người (hai trăm bảy mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi mốt ngàn, một trăm đồng).
Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ hoàn cho ông D, anh H3, chị T1, anh D1 số tiền: 489.670.960 đồng (bốn trăm tám mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi ngàn, chín trăm sáu mươi đồng)
Thời gian lưu cư là 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, tiền án phí và quyền kháng cáo, thời gian thi hành án khi án có hiệu lực.
Ngày 06/8/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về sơ thẩm giải quyết lại;
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và cam kết không cung cấp chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm;
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đặng Văn S trình bày ý kiến: yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, với lý do: bà L3 đã lập di chúc cho ông N1 ngày 15/11/2023 đúng với quy định pháp luật; đối với di chúc ngày 01/02/2024 của bà L3 lập cho bà M không đảm bảo pháp luật, không có giấy khai sinh của bà M, không xuất trình được bản chính giấy chứng nhận QSDĐ của cụ L3; Văn phòng C1 vi phạm Luật Công chứng không giải thích rõ quyền, nghĩa vụ của người để lại di chúc là đã lập di chúc cho ông N1 trước đó hay không; về việc thỏa thuận chia lại kỷ phần thừa kế của các anh em cho bà M là không đúng pháp luật; về thủ tục ủy quyền của các ông bà M1, Á, T6 cho bà M là vi phạm tố tụng, chưa đảm bảo pháp luật do có người không biết chữ, nhưng không có người chứng kiến hoặc người làm chứng; về kỷ phần của ông T6, ông N đã chuyển nhượng lại cho bà T, có mẹ bà Thu L3 ký xác nhận, chưa xem xét yêu cầu độc lập của bà T; tất cả thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm là chưa đảm bảo theo Bộ luật Tố tụng dân sự và Văn phòng Công chứng Minh Tiên vi phạm Luật Công chứng, nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy án toàn bộ bản án sơ thẩm, để giải quyết lại vụ án.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến: không có quy định nào quy định khi công chứng phải xuất trình giấy chứng nhận QSDĐ bản chính và bà T cũng không chứng minh được tại thời điểm lập di chúc không có bản chính; việc người lập di chúc là thể hiện ý chí của họ, cho bất cứ người nào, chứ không nhất thiết là con ruột, nên không cần xuất trình giấy khai sinh bà M; người để lại tài sản có quyền lập nhiều di chúc, thay đổi di chúc, hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào, di chúc sau cùng là di chúc có hiệu lực, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ y án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
10
- - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia thừa kế theo di chúc của cụ L3 lập năm 2024 và chia theo pháp luật di sản của cụ T7 để lại là có căn cứ; bị đơn kháng cáo không đưa ra được chứng cứ nào mới, nên không có cơ sở xem xét, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về di sản và hàng thừa kế: Các đương sự đều thống nhất tài sản là di sản và hàng thừa kế của cụ Nguyễn Trung T7 và cụ Nguyễn Thị Thu L3 tạo lập để lại; sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về vấn đề này, nên Hội đồng xét xử không xem xét, cấp sơ thẩm xác định là đúng pháp luật;
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T đối với 02 tờ di chúc lập ngày 15/11/2023 và di chúc 01/02/2024 của cụ L3 để lại thì thấy;
[3.1 Trong quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thu thập chứng cứ từ Văn phòng C2; Văn phòng C1 và hồ sơ khám sức khỏe của Bệnh viện đa khoa tỉnh A cung cấp cho thấy di chúc ngày 15/11/2023 công chứng tại Văn phòng C2; di chúc ngày 02/01/2024 công chứng tại Văn phòng C1 được lập và công chứng đúng về trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 56 Văn bản hợp nhất 07/VBHN- VPQH 2018 Luật Công chứng; Điều 58 Luật Công chứng 2024; Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015; Điều 609, Điều 624, Điều 627, Điều 630, Điều 635, Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015.
Đối với di chúc ngày 02/01/2024 bà T cho rằng việc lập di chúc này là không đúng quy định pháp luật về công chứng do không có bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Đối với ông N1 là người có quyền lợi trực tiếp trong tờ di chúc lập ngày 15/11/2023, nhưng sau khi xét xử sơ thẩm ông N1 cũng không kháng cáo. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận lập luận của bà T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2] Về so sánh hiệu lực của 02 bản di chúc: Bà Nguyễn Thị Thu L3 có lập nhiều bản di chúc đối với cùng khối tài sản. Trong đó, di chúc ngày 02/01/2024 là bản di chúc được lập sau cùng. Căn cứ khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực di chúc ngày 02/01/2024 và không công nhận di chúc ngày 15/11/2023 là đúng quy định.
11
[3.3] Căn cứ Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, chia di sản của bà Nguyễn Thị Thu L3 theo di chúc ngày 02/01/2024. Theo đó nội dung di chúc ngày 02/01/2024, bà Nguyễn Thị Thu L3 để lại cho Nguyễn Thị M được quyền thừa hưởng 50% quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung vợ chồng và suất thừa kế được hưởng từ di sản của người chồng – ông T7. Như vậy, bà M được hưởng 50% quyền sử dụng đất của thửa số 95, tờ bản đồ số 77 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01022 ngày 17/3/2011 và 50% quyền sử dụng đất của thửa đất 39, tờ bản đồ số 77 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01021 ngày 17/3/2011.
[4] Đối với di sản của cụ T7 (50% quyền sử dụng đất của thửa số 95, tờ bản đồ số 77 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01022 ngày 17/3/2011 và 50% quyền sử dụng đất của thửa đất 39, tờ bản đồ số 77 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01021 ngày 17/3/2011) và căn nhà 1, 2; nhà kho và nhà bếp do cụ L3, cụ T7 để lại, các đương sự thống nhất yêu cầu Tòa án chia theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của ông N1, cụ thể như sau: đối với di sản của cụ T7 chia làm 11 kỷ phần bằng nhau, bao gồm vợ là cụ L3 và 10 người con. Riêng đối với căn nhà 1, 2, nhà kho, nhà bếp là tài sản chung của cụ T7, cụ L3. 50% quyền sở hữu của cụ T7 được chia là 11 kỷ phần gồm bà L3 và các con, 50% quyền sở hữu của cụ L3 được chia là 10 kỷ phần gồm 10 người con. Trong đó, kỷ phần của bà H2, bà T2 sẽ do chồng con của bà H2, bà T2 được nhận thay bà H2, bà T2.
[5] Đối với yêu cầu phản tố của bà T, ông N1 về yêu cầu công nhận việc chuyển nhượng, nhận kỷ phần thừa kế của ông T6, ông N: Các “tờ bán đất” mà bà T và ông N1 xuất trình chỉ là giấy viết tay, được lập trong thời điểm di sản chưa được phân chia, người bán chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp, không đáp ứng điều kiện về hình thức và nội dung của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và dân sự. Đồng thời, không có văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế hợp pháp, cũng không được các đồng thừa kế còn lại thừa nhận. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu này của bà T, ông N1 là có căn cứ. Cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện cho bà T, ông N1 về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với ông T6, ông N bằng vụ án khác là đúng quy định.
[6] Bà M yêu cầu được nhận kỷ phần của bà L3, bà M1, bà Á, bà H2, ông T6, ông N trong di sản của cụ T7. Xét thấy, di chúc ngày 02/01/2024, cụ L3 để lại kỷ phần của cụ L3 được hưởng trong di sản của cụ T7 lại cho bà M, như đã nhận định phần trên Hội đồng xét xử công nhận hiệu lực của di chúc, do đó bà M được nhận kỷ phần của cụ L3 trong di sản của cụ T7.
Đồng thời, ông N và bà M có lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày 05/6/2024; bà Á và bà M có lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày 31/5/2024; ông T6 và bà M có lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày 06/02/2024; bà M1 và bà M có lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày
12
17/9/2025; văn bản thỏa thuận ngày 01/8/2025 giữa bà M và ông C, chị Tài L1, chị Cẩm L2, chị T3, anh T4; các văn bản thỏa thuận đều được công chứng thỏa thuận giao cho bà M kỷ phần được hưởng trong di sản của cụ T7. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa các ông bà Á, M1, T6, N, C, Tài L1, Cẩm L2, T4 đã ủy quyền cho bà M và các ông bà đều trình bày thống nhất giao phần được hưởng đối với phần di sản còn lại (nhà 1, 2; nhà kho; nhà bếp) cho bà M được hưởng. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận của các đương sự, là quyền định đoạt của các đương sự đối với kỷ phần của mình được hưởng, sự thỏa thuận này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, bà M được hưởng suất thừa kế của bà Á, bà M1, ông T6, ông N, bà T2 trong phần di sản cụ T7, cụ L3 để lại.
[7] Về việc giao hiện vật và hoàn giá trị: Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào thực tế quản lý, sử dụng tài sản, tỷ lệ kỷ phần thừa kế mà bà Nguyễn Thị M được hưởng, hình thể thửa đất và điều kiện tách thửa theo quy định pháp luật đất đai để quyết định giao toàn bộ hiện vật cho bà M và buộc bà M hoàn lại giá trị tương ứng cho các đồng thừa kế khác. Cách giải quyết này bảo đảm tính khả thi trong thi hành án, phù hợp quy định pháp luật và thực tiễn sử dụng tài sản.
[8] Về tài sản là di sản của cụ T7, cụ L3; Chứng thư thẩm định giá các đương sự thống nhất không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bản án dân sự sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và đánh giá đầy đủ chứng cứ, áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Công chứng và pháp luật có liên quan, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M phân chia di sản thừa kế của cụ L3 theo di chúc ngày 02/01/2024 và của cụ T7 theo pháp luật là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật.
[10] Án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 điều 148; điều 296 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị đơn Nguyễn Thị Thu T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DSST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
13
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001071 ngày 25/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM [Signature space] |
Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về chia di sản thừa kế
- Số bản án: 11/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà M khởi kiện bà Th yêu cầu chia thừa kế QSDĐ
