Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN


Bản án số: 11/2026/DS-PT
Ngày: 22/01/2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị An

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 22 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2025/TLPT- DS ngày 03 tháng 11 năm 2025 về "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 206/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)

Địa chỉ: Số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tân C, ông Lý Bình D1, ông Tề Công M, bà Chu Thị H – cán bộ xử lý nợ. (Ông M có mặt, ông D1 và bà H vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà F, đường L, phường P, tỉnh Thái Nguyên.

+ Bị đơn: 1, Bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1968 (Có mặt)

2, Ông Nguyễn Huy B1, sinh năm 1968 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm S, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà B: Luật sư Lưu Bình D2 – Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt)

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Bà Trần Thị T, sinh năm 1972 (có mặt)

2, Ông Đào Quang D3, sinh năm 1973 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng TMCP V (viết tắt là V2) với ông Nguyễn Huy B1 và bà Trần Thị Ngọc B, ông B1 và bà B vay của V2 tổng số tiền là: 400.000.000 đồng, trong đó: Theo Hợp đồng tín dụng số LN2005202415875 ký ngày 20/5/2020, số tiền vay: 300.000.000 đồng; thời gian vay: 12 tháng; mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán thực phẩm tươi sống. Ngoài ra, bà B còn mở thẻ tín dụng tại V2 với số tiền 100 triệu đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông B1 và bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ các khoản vay nêu trên bị chuyển sang nợ quá hạn (nợ xấu) từ ngày 22/5/2021.

Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện, đôn đốc, tạo điều kiện. Tuy nhiên, ông B1 và bà B vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 24/9/2025, tổng dư nợ của các khoản vay nêu trên là: 806.900.103 đồng, trong đó: Nợ gốc: 252.611.196 đồng; Nợ lãi: 532.523.592 đồng; Lãi chậm trả lãi: 21.765.315 đồng.

V2 đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông B1 và bà B phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa 2 bên; buộc ông B1 và bà B phải tiếp tục chịu lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày ông B1 và bà B thanh toán hết dư nợ cho V2; trường hợp ông B1 và bà B không thanh toán đầy đủ cho V2, V2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V2, gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số: 3058, tờ bản đồ số 12, địa chỉ xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 708973 do Sở T1 cấp ngày 11/5/2020 mang tên bà Trần Thị T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 20/05/2020 được công chứng tại Văn phòng C2; Số công chứng: 3337; Quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD. Trường hợp các tài sản trên không đủ thanh toán cho nghĩa vụ trả nợ của ông B1 và bà B thì ông B1 và bà B phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo bản án/quyết định của Tòa án cho đến khi hết toàn bộ nghĩa vụ với V2.

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc B và ông Nguyễn Huy B1 trình bày:

Đầu năm 2020, gia đình ông bà có nhu cầu vay vốn làm ăn nên đã nhờ em gái ruột bà B là bà Trần Thị T đứng ra bảo lãnh bằng tài sản thế chấp là thửa 3058 tờ bản đồ số 12, địa chỉ xóm C, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên có trong Giấy chứng nhận QSD đất số CU 708973 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 11/05/2025 mang tên Trần Thị T để vay 300 triệu đồng. Ngày 22/05/2020 gia đình ông bà được giải ngân 300 triệu đồng qua tài khoản của bà B mở tại V2. Sau khi vay, ngày 8/7/2020 ông bà thu xếp trả được 150 triệu, khi trả tiền cho ngân hàng, bà B được ông Nguyễn Quang H1 là người của V2 đã tư vấn cho bà nộp tiền vào tài khoản cá nhân là Tài khoản thuộc quyền quản lý của ngân hàng. Sau khi nộp, bà B bị Nguyễn Quang H1 là cán bộ của V2 dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 150 triệu đồng này. Việc này đã có bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử tại bản án số 42/2024/HS-ST ngày 16/5/2024. Bản án đã xác định bà Trần Thị Ngọc B đã trả tiền cho V2, do ông Nguyễn Quang H1 cán bộ của V2 chi nhánh T2 trực tiếp làm thủ tục nhận. Do Ngân hàng kháng cáo nên Tòa án nhân dân cấp cao đã xử lại và tại Bản án số 926/2024/HS-TP ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử y án sơ thẩm và như vậy người chịu trách nhiệm trả số tiền 150 triệu nêu trên là ông Nguyễn Quang H1 cán bộ của V2. Số tiền còn lại là 150 triệu đồng vào ngày 22/5/2021 bà B đã trả đủ gốc và lãi cho ngân hàng mà không tranh chấp.

Đồng thời ông Nguyễn Quang H1 cán bộ của V2 Chi nhánh T2 tự ý mở 1 thẻ tín dụng số tiền là 100 triệu đồng mang tên bà B trong khi bà B không được tư vấn, không được biết, không trực tiếp mở thẻ, nhận thẻ hay kích hoạt thẻ. Ngân hàng đưa thẻ tín dụng cho ai thì liên hệ giải quyết với người đó. Trách nhiệm này thuộc về phía Ngân hàng. Mọi việc tranh chấp đã được Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Tòa án cấp cao tại Hà Nội xác định rõ trong bản án xét xử bị cáo Nguyễn Quang H1. Bản án cũng đã buộc bị cáo H1 trả tiền cho Ngân hàng đối với số tiền mà H1 đã chiếm đoạt. Nay V2 khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông bà phải trả số tiền 806.900.103 đồng gồm nợ gốc, lãi, và lãi chậm trả tính đến ngày 25/9/2025, ông bà không nhất trí yêu cầu khởi kiện của V2 vì số tiền này thuộc trách nhiệm của bị cáo H1. Bản án hình sự xét xử bị cáo H1 đã có hiệu lực pháp luật nên V2 không có quyền khởi kiện đối với ông bà, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của V2.

Về yêu cầu phản tố: Tại phiên toà sơ thẩm, bà B xin rút yêu cầu Tòa án công nhận khoản tiền 150.000.000 đồng đã được bà B trả cho V2 qua tài khoản 214606348 ngày 08/7/2020, đề nghị tuyên bố hợp đồng tín dụng ký ngày 20/5/2020 giữa bà B và V1 đã giải quyết xong.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T và ông Đào Quang D3 trình bày:

Bà T là em gái ruột của bà B và ông D3 là chồng bà T. Năm 2020 khi bà B có nhu cầu vay vốn tại V1, bà T đã cho bà B mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ký hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay của bà B. Sau đó bà B đã trả hết các khoản vay cho V2 nhưng V2 vẫn chưa trả lại cho bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông D3 xác định quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất thế chấp là tài sản chung của hai vợ chồng, ông không được ký hợp đồng với V2. Đề nghị ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.

Bà T có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án Tuyên bố hợp đồng tín dụng ký ngày 20/5/2020 giữa bà B và Ngân hàng V1 đã giải quyết xong; Buộc V2 phải trả lại cho bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị T.

Ngày 31/12/2024, Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ ra quyết định đình chỉ vụ án số 25/2024/QĐST-DS với lý do vụ việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tại Quyết định số 47/2025/QĐ-PT ngày 14/03/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã huỷ quyết định đình chỉ vụ án của Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ do chưa xem xét đầy đủ số tiền nợ của hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp. Vụ án đã được Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ (nay là Toà án nhân dân khu vực 5) thụ lý lại.

Tại Bản án sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

* Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1) buộc ông Nguyễn Huy B1 và bà Trần Thị Ngọc B phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng số LN2005202415875 cho Ngân hàng V1. Tạm tính đến ngày 24/9/2025 tổng dư nợ là 806.900.103 đồng, trong đó: Nợ gốc: 252.611.196 đồng (gồm 150.000.000đồng của hợp đồng tín dụng, 100.000.000đồng tiền thẻ tín dụng và 2.792.987 tiền phí phát hành thẻ); Nợ lãi: 532.523.592 đồng; Lãi chậm trả lãi: 21.765.315 đồng.
  2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Ngọc B tuyên bố Hợp đồng tín dụng số LN2005202415875 đã giải quyết xong, bà B không có nghĩa vụ phải thanh toán khoản tiền nào khác cho Ngân hàng V1.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác ngày 20/5/2020 giữa Ngân hàng V1 – Chi nhánh T2 và bà Trần Thị T đã hoàn thành. Buộc Ngân hàng V1 phải thực hiện các thủ tục xoá thế chấp trả lại cho bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 708973 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T1 cấp ngày 11/5/2020 mang tên Trần Thị T để bà T tiếp tục quản lý và sử dụng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, V2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của V2 thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc 252.611.196đ và yêu cầu bị đơn trả lãi cho V2.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà B đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà B và ông B1 về việc thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.792.862đ nợ gốc và lãi tính đến ngày 22/01/2026 là 3.295.319đ, lãi chậm trả 967.751đ, tổng 7.055.932đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn về việc trả cho nguyên đơn số tiền 2.792.862đ và nợ lãi, tổng là 7.055.932đ. Về án phí, các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Nguyên đơn V2 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B2 và ông Nguyễn Huy B1 trả nợ theo hợp đồng tín dụng ngày 20/5/2020 giữa V2 với bà B2 và ông B1 và trả nợ theo thẻ tín dụng mang tên bà B2. Cụ thể, theo hợp đồng tín dụng, V2 đã giải ngân cho bà B2 và ông B1 số tiền 300 triệu đồng và theo thẻ tín dụng ngày 16/3/2020, bà B2 nợ V2 số tiền 100 triệu đồng. V2 cho rằng quá trình thực hiện hợp đồng, bà B2 và ông B1 còn nợ V2 số tiền 806.900.103 đồng, trong đó: Nợ gốc: 252.611.196 đồng (gồm nợ hợp đồng tín dụng và nợ thẻ tín dụng); Nợ lãi: 532.523.592 đồng; Lãi chậm trả lãi: 21.765.315 đồng. Bị đơn bà B2 và ông H1 không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do bà B2 đã thanh toán đầy đủ số tiền theo hợp đồng tín dụng, còn khoản tiền theo thẻ tín dụng bà B2 không được vay, không được sử dụng, do ông H1 là cán bộ Ngân hàng đã mạo danh bà để mở thẻ tín dụng và sử dụng khoản tiền này. Ông H1 đã bị xét xử bằng bản án hình sự của TAND tỉnh Thái Nguyên và TAND cấp cao tại Hà Nội, theo đó ông H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng V2 số tiền đã chiếm đoạt là 250 triệu đồng, gồm 150 triệu từ hợp đồng tín dụng và 100 triệu từ thẻ tín dụng. Bà B2 và ông B1 xác định không còn liên quan gì đến khoản nợ của V2 nữa và đề nghị V2 trả cho bà T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan GCNQSD đất mà bà T đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của bà B2 và ông B1 theo yêu cầu độc lập của bà T.

Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn V2 về việc đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số nợ gốc và lãi 806.900.103 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 926/2024/HSPT ngày 18/11/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội xác định Nguyễn Quang H1 là nhân viên tư vấn tài chính thuộc phòng kinh doanh của V1 – Chi nhánh T2 đã dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt 02 khoản tiền từ Ngân hàng là 250.000.000 đồng (trong đó gồm 150 triệu đồng bà B2 đã trả cho Ngân hàng và 100 triệu đồng tiền H1 chiếm đoạt thông qua hình thức mở thẻ tín dụng mang tên bà B2). Trong vụ án hình sự xét xử bị cáo H1, Tòa án đã xác định Ngân hàng V2 là bị hại đối với khoản tiền nêu trên và buộc bị cáo Nguyễn Quang H1 phải có trách nhiệm bồi thường cho V2 250.000.000 đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo đó, đối với khoản vay 300 triệu đồng theo hợp đồng tín dụng, bản án hình sự xác định bà B2 và ông B1 đã trả được 150 triệu đồng.

Đối với số tiền 150 triệu đồng còn lại trong hợp đồng tín dụng, quá trình giải quyết vụ án này, bà B2 và ông B1 đều xác định đã thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Ngân hàng thừa nhận bà B2 có thanh toán số tiền 150 triệu đồng nhưng do chậm trả nên bị phạt số tiền 2.792.862đ, trừ vào số tiền 150 triệu đồng nên thực tế Ngân hàng chỉ công nhận bà B2 đã trả số tiền gốc 147 triệu có lẻ, còn lại vẫn nợ 2.792.862đ là tiền gốc. Ngân hàng yêu cầu bà B2 và ông B1 phải thanh toán số tiền 2.792.862đ nợ gốc và lãi tính đến ngày 22/01/2026 là 3.295.319đ, lãi chậm trả 967.751đ, tổng 7.055.932đ, đồng thời yêu cầu bà B2 và ông B1 trả số tiền theo bản án hình sự vì bà B2 và ông B1 là người ký hợp đồng với V2.

Bà B2 và ông B1 cho rằng thực tế bà đã trả 150 triệu đồng trước hạn nhưng cán bộ Ngân hàng giải thích rằng nộp trước sẽ bị phạt và khuyên bà tạm gửi vào tài khoản Ngân hàng, khi đến hạn sẽ thanh toán. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà sau đó, Ngân hàng đã làm thủ tục chậm dẫn đến bà bị phạt chậm trả. Nay, bà và ông B1 tự nguyện đồng ý trả nốt số tiền 2.792.862đ nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử phúc thẩm với tổng số tiền gốc + lãi là 7.055.932đ. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà B2 và ông B1 về nội dung này.

Xem xét tổng số tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 806.900.103 đồng, trong đó: Nợ gốc: 252.611.196 đồng; Nợ lãi: 532.523.592 đồng; Lãi chậm trả lãi: 21.765.315 đồng. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét đầy đủ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ căn cứ vào số tiền 250 triệu đã được giải quyết trong vụ án hình sự đối với bị cáo H1 mà không xem xét số tiền gốc còn lại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thiếu sót.

Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn về việc thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.055.932đ (gốc + lãi) nêu trên, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[3]. Do sửa một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đối với V2 nên cần xem xét nội dung liên quan đến tài sản thế chấp. Tại phiên toà, nguyên đơn không nhất trí trả lại GCNQSD đất cho bà T vì lý do khoản nợ của bà B2 và ông B1 chưa được tất toán. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay, bà B2 và ông B1 chưa thanh toán số tiền 7.055.932đ nên việc Ngân hàng không đồng ý trả lại GCNQSD đất cho bà T là có căn cứ. Đối chiếu với các điều khoản đã được ký kết trong hợp đồng thế chấp, trường hợp bà B2 và ông B1 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ khoản nợ cho V2 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản thế chấp. Do vậy, yêu cầu của bà T về việc buộc V2 trả lại GCNQSD đất chỉ được chấp nhận sau khi bà B2 và ông B1 thanh toán xong số tiền 7.055.932đ.

[4]. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm một số nội dung:

Thứ nhất, về xác định yêu cầu phản tố: Bị đơn đề nghị Toà án xác định hợp đồng tín dụng đã được hoàn thành, lẽ ra nội dung này chỉ được coi là ý kiến của bị đơn, không phải là yêu cầu phản tố theo Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Toà án thụ lý yêu cầu phản tố về nội dung này là không đúng. Tương tự, Toà án xác định nghị xác định hợp đồng tín dụng giữa V2 với bà B2 và ông B1 đã hoàn thành là yêu cầu độc lập cũng là không đúng.

Thứ hai, bản án nhận định bị đơn rút yêu cầu phản tố nên đình chỉ giải quyết phần yêu cầu mà bị đơn đã rút, tuy nhiên, một mặt, bản án tuyên đình chỉ, mặt khác lại tuyên bà B2 không có nghĩa vụ phải thanh toán khoản tiền nào khác cho V1. Cách tuyên như vậy là không đúng vì đã đình chỉ nghĩa là không xem xét, giải quyết về nội dung, còn việc tuyên như trên lại có nghĩa là vẫn xem xét về nội dung yêu cầu của đương sự.

Thứ ba, vụ án này đã từng bị Toà án cấp phúc thẩm huỷ vì lý do đình chỉ không đúng, chưa xem xét hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chưa xem xét đến hợp đồng thế chấp, lẽ ra khi giải quyết lại, cần thận trọng đánh giá đầy đủ các nội dung yêu cầu khởi kiện của đương sự để giải quyết.

[5.] Án phí:

5.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà B2 và ông B1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 7.055.932đ.

Nguyên đơn V2 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền khởi kiện không được Toà án chấp nhận.

Do sửa án cả về nội dung giải quyết hợp đồng thế chấp nên án phí theo yêu cầu độc lập của bà T cũng cần được sửa lại. Cụ thể, bà T chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu độc lập không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp (bà B2 nộp thay).

Hoàn trả cho bà B2 300.000đ tiền tạm ứng án phí phản tố đã nộp.

5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn V2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6.] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn về việc ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn đối với số tiền thanh toán cho nguyên đơn là có cơ sở.

[7.] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà về việc sửa án là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V2).

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DSST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V2) đối với bà Trần Thị Ngọc B và ông Nguyễn Huy B1.

  1. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc B và ông Nguyễn Huy B1 về việc thanh toán cho V2 số tiền 7.055.932đ (bảy triệu không trăm năm mươi mươi lăm nghìn chín trăm ba mươi hai đồng), gồm 2.792.862đ nợ gốc, 3.295.319đ lãi tính đến ngày 22/01/2026 và 967.751đ lãi chậm trả.

Kể từ ngày 23/01/2026, bà Trần Thị Ngọc B và ông Nguyễn Huy B1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Trường hợp bà B và ông B1 không thanh toán đầy đủ cho V2, V2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V2 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 3058, tờ bản đồ số 12, địa chỉ xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 708973 do Sở T1 cấp ngày 11/5/2020 mang tên bà Trần Thị T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 20/05/2020 được công chứng tại Văn phòng công chứng Phía Nam thành phố C2.
  2. Trường hợp bà B và ông B1 đã thanh toán đầy đủ cho V2 số tiền theo mục 1 nêu trên thì V2 có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị T bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 708973 do Sở T1 cấp ngày 11/5/2020 mang tên bà Trần Thị T.
  3. Về án phí:
    • 4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • V2 chịu 35.993.766đ đồng án phí dân sự sơ thẩm (Ba mươi lăm triệu chín trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 10.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Thái Nguyên) theo biên lai số 0003739 ngày 01/3/2025, còn phải nộp tiếp 25.993.766đ (hai mươi lăm triệu chín trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng)
      • Bà B và ông B1 liên đới chịu 352.750đ (ba trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
      • Bà Trần Thị Thúy C1 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000435 ngày 28/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
      • Hoàn trả cho bà B 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000436 ngày 28/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
    • 4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: V2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001370 ngày 13/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND KV5- TN;
- Phòng THADS KV5-TN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Thị An

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 22/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 11/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Nguyên đơn Ngân hàng VP Bank và bị đơn Trần Thị Ngọc Bích, Nguyễn Huy Bảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger