|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/DS-PT
Ngày 23/12/2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.
Các thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên, bà Lại Thị Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thành – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Sơn La bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2025/QĐ-PT, ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lương Thị M, sinh năm 1972 và ông Phạm Văn L, sinh năm 1961. Địa chỉ: Xóm A, tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Bà M có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn L: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Xóm A, tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh 1989 và bà Vũ Thị Thùy L1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm A, tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Vũ Thị Thùy L1: Văn phòng L5. Địa chỉ: Số D đường L, tổ C, phường C, tỉnh Sơn La. Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đức T1. Luật sư được phân công thực hiện: Ông Cầm Phúc T2 - Luật sư văn phòng L5. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960. Địa chỉ: Xóm A, tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1924. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Sơn La. Đại diện theo pháp luật là bà Hoàng Thị H – Chủ tịch UBND xã. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Lương Thị M, ông Phạm Văn L, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Năm 1997 gia đình ông L bà M có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Vũ Văn T3 diện tích 200m² đất ở và 6000m² đất vườn nhưng hiện chưa thực hiện thủ tục sang tên. Tuy nhiên, gia đình bà đã sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 1997 đến nay và không có tranh chấp gì đối với chủ sở hữu trước là bà Nguyễn Thị S (ông Vũ Văn T3 đã chết). Năm 2022 khi nhà nước thu hồi đất để làm đường thì gia đình bà và gia đình ông bà T, L1 đều thuộc diện giải tỏa mặt bằng. Năm 2023 Ủy ban nhân dân xã C ra văn bản số 174/UBND ngày 30/11/2023 về việc xác nhận nguồn gốc đất đai, loại đất, tỷ lệ % diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi. Đến năm 2024 Ủy ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 253/QĐ-UBND ngày 25/01/2024 và 254/QĐ-UBND ngày 25/01/2024 về việc thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Đường giao thông, sau nhiều lần xác nhận nguồn gốc đất đai, loại đất, Ban dự án có họp dân thông báo công khai về diện tích đất, cây trồng trên đất để thực hiện việc bồi thường, các hộ dân không phát sinh tranh chấp gì. Cả gia đình bà và gia đình ông bà T, L1 đều đã được nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng.
Sau khi tiến hành giải phóng mặt bằng, do phần diện tích đất liền kề của hai gia đình có nhiều khu vực không bằng phẳng, có nhiều hủm đá nên đã cùng nhau thuê đơn vị phá đá và san lấp mặt bằng thì khi đó bắt đầu phát sinh tranh chấp. Ông T, bà L1 cho rằng còn phần đất của ông bà với chiều rộng mặt đường 40m, sâu vào 1m nên đã quây rào, cắm cọc đồng thời khiếu nại việc giải phóng mặt bằng đường tránh nhưng theo trả lời của ban quản lý dự án thì gia đình bà M được đền bù là đúng quy định. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu ông T, bà L1 tháo dỡ cọc, rào, trả lại diện tích đất 26,7m² cho gia đình bà; trả lại 108m² đất đã bị thu hồi lại cho UBND xã M, tỉnh Sơn La.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Vũ Thị Thùy L1 trình bày:
Nguồn gốc đất là do ông Nguyễn Văn B (bố đẻ ông T) khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1990 đến nay, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng ông B không thực hiện việc chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho gì, giữ nguyên hiện trạng, mốc giới. Đến năm 1997 ông L, bà M mua lại đất vườn của ông Vũ Văn T3 giáp với hộ gia đình ông bà. Năm 2014 huyện M có tiến hành đo đất, cho các hộ gia đình chỉ mốc giới và có bản đồ đo đạc địa chính, các hộ dân cắm cọc bê tông, rào dây thép gai và trồng cây sống để làm mốc giới. Cùng năm 2014, ông B tặng cho lại diện tích đất này cho ông T, bà L1 nhưng chưa thực hiện việc đăng ký biến động. Năm 2022 có dự án làm đường nên gia đình ông bà bị thu hồi diện tích đất là 1.039m², còn lại 900m². Do gia đình có sơ suất trong kiểm tra kỹ thông số nên đã ký vào biên bản giải phóng mặt bằng và sơ đồ năm 2022.
Ngày 19/3/2024 ông L bà M có thuê máy vào đục đá để cải tạo vườn thì gia đình ông bà cùng bà M cắm cọc sắt, phun sơn đỏ để đánh dấu mốc giới giữa hai nhà với sự chứng kiến của nhiều người dân xung quanh. Ngày 21/4/2024 bà M có vào gia đình ông bà để trao đổi với mong muốn đổi số đất của ông bà là khoảng 200m² giáp phần đất của ông Đỗ Xuân L2 nhưng gia đình ông bà không đồng ý.
Việc gia đình ông L, bà M khởi kiện cho rằng phần diện tích gia đình ông bà rào lại là của ông L, bà M, ông bà hoàn toàn không đồng ý. Hiện tại trên đất gia đình ông T bà L1 vẫn còn cây gáo vàng là loại cây mà gia đình ông đã trồng trước đó trên đất, còn gia đình ông L, bà M trước đây không trồng loại cây này. Toàn bộ các sơ đồ đo đạc đều thể hiện rõ ràng phần đất này nằm hoàn toàn trên phần đất của ông bà. Do vậy, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày như sau:
Nhất trí với ý kiến trình bày của ông T, bà L1 về nguồn gốc cũng như quá trình sử dụng đất, hiện trạng thửa đất. Năm 1990 ông là người khai hoang đất và sử dụng ổn định, được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông không thực hiện việc chuyển nhượng, tặng cho ai đất, đến năm 2024 ông tặng lại phần đất này cho các con là ông T, bà L1 quản lý sử dụng. Quá trình ông L, bà M nhận chuyển nhượng đất của ông T3 ông có được biết, hai bên có cọc sắt, rào lưới làm mốc giới. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày như sau:
Năm 1997 chồng bà là Vũ Quang T4 đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn Đ (Phạm Văn L) một diện tích đất là 2.500m² cùng ba gian nhà lợp ngói và 02 gian nhà bếp. Việc chuyển nhượng mặc dù bà không ký tên nhưng đều nhất trí với nội dung đó. Gia đình ông L đã sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 1997 đến nay không có tranh chấp gì. Đối với việc tranh chấp giữa gia đình ông bà Mến L3 và anh chị Tuân L4 đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Do tuổi đã cao, sức khỏe không còn ổn định nên bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất đang tranh chấp vào ngày 30/7/2025, kết quả:
- Tổng diện tích đất tranh chấp là 133,7m². Địa chỉ thửa đất: T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là T, xã M, tỉnh Sơn La).
+ Tứ cạnh như sau:
Phía Tây Bắc giáp đất đã thu hồi 8,78m (Từ điểm 05 đến điểm 06); giáp đất ông L3 đang sử dụng chiều dài 0,22m +7,42m + 8,11m + 7,74m + 1,66m (từ điểm 6 đến điểm 10, đến điểm 01).
Phía Đông Bắc giáp đất đã thu hồi chiều dài 3,41m (Từ điểm 01 đến 02).
Phía Đông Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 11,28m + 22,17m (Từ điểm 02 đến điểm 01).
Phía Tây Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 2,74m (Từ điểm 04 đến điểm 05).
+ Trong diện tích đất tranh chấp 133,7m² gồm có:
Phần diện tích đất đã bị thu hồi làm “Dự án đường giao thông từ T, xã C đến tiểu khu A, xã H, huyện M” là 108m².
Phần diện tích đất ngoài phạm vi thu hồi là 26,7m². Cụ thể :
Phía Tây Bắc giáp đất ông L3 đang sử dụng chiều dài 0,22m +7,42m + 8,11m + 7,74m.
Phía Đông Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 5,34m + 11,23m + 6,89m.
Hình thể thửa đất được thể hiện tại Sơ đồ thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 đo đạc theo Hợp đồng ký kết với Tòa án kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ.
Đặc điểm thửa đất: Trên đất có 01 mầm chồi cây gáo vàng mọc lên cao khoảng 03m.
Ngoài ra, Tòa án còn tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khác như yêu cầu Ban Q cung cấp Hồ sơ bồi thường “Dự án đường giao thông từ T, xã C đến tiểu khu A, xã H, huyện M” đối với các hộ gia đình bà Lương Thị M, ông Phạm Văn L; hộ gia đình ông Nguyễn Văn T, bà Vũ Thị Thùy L1; hộ gia đình ông Nguyễn Văn B. Thu thập Bản đồ thu hồi đất “Dự án đường giao thông từ T, xã C đến tiểu khu A, xã H, huyện M” năm 2022 đối với các hộ gia đình trên. Thu thập Hồ sơ trả lời đơn kiến nghị về việc bồi thường của ông Nguyễn Văn T cư trú tại Tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Khai thác Bản đồ địa chính chính quy xã C, huyện M, tỉnh Sơn La hoàn thành ngày 31/12/2013, số tờ bản đồ 72. Xác minh về vị trí thửa đất đang tranh chấp sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối chiếu bằng phương pháp lồng ghép sơ đồ dựa trên hệ toạ độ giữa sơ đồ trích đo thửa đất với bản đồ địa chính xã C (cũ) được lưu trữ với Phòng kinh tế xã M, tỉnh Sơn La.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 – Sơn La đã quyết định.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 227, khoản 1, 2 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 4, khoản 5 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về nội dung:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với diện tích đất 133,7m² và yêu cầu buộc bị đơn ông T, bà L1 tháo dỡ cọc, rào dựng trên diện tích đất có tranh chấp.
Vị trí diện tích đất có tranh chấp tiếp giáp cụ thể như sau:
Phía Tây Bắc giáp đất đã thu hồi 8,78m; giáp đất ông L đang sử dụng chiều dài 0,22m +7,42m + 8,11m+7,74m + 1,66m.
Phía Đông Bắc giáp đất đã thu hồi chiều dài 3,41m.
Phía Đông Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 11,28m + 22,17m.
Phía Tây Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 2,74m.
+ Trong diện tích đất 133,7m² gồm có :
Phần diện tích đất đã bị thu hồi làm “Dự án đường giao thông từ T, xã C đến tiểu khu A, xã H, huyện M” là 108m².
Phần diện tích đất ngoài phạm vi thu hồi là 26,7m². Cụ thể :
Phía Tây Bắc giáp đất ông L đang sử dụng chiều dài 0,22m +7,42m + 8,11m + 7,74m.
Phía Đông Nam giáp đất đã thu hồi chiều dài 5,34m + 11,23m + 6,89m.
Vị trí, kích thước, hình thể thửa đất được thể hiện tại Sơ đồ thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 đo đạc theo Hợp đồng ký kết với Tòa án kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2025 nguyên đơn bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn L) kháng cáo không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do bản án nhận định, đánh giá bản chất sự việc không đúng thực tế khách quan, việc xem xét, thẩm định, đo đạc thực tế chỉ căn cứ vào ranh giới, mốc giới do bị đơn chỉ và dựa vào lời khai của ông Nguyễn Văn B và một số người làm chứng do bị đơn cung cấp; căn cứ vào tờ bản đồ số 72, thửa đất số 35 của Cò Nòi cũ (nay là xã M) là không đúng vì bản đồ này được xác lập rất lâu năm, nay đã có biến động. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét đánh giá lại.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Ý kiến của nguyên đơn bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn L) và người bảo vệ quyền lợi ích của nguyên đơn: Không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mới, giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo, tại phiên tòa các bên đều xác định diện tích đất hai gia đình sử dụng đều chưa được cấp GCNQSDĐ, không xác định được ranh giới, số lô, số thửa tứ cạnh là bao nhiêu, cấp sơ thẩm căn cứ vào bản đồ số 72 là không có căn cứ, đề nghị căn cứ vào bản đồ năm 2024 buộc gia đình ông T bà L1 tháo dỡ hàng rào trả lại lối đi cho ông bà Mến L3.
- Ý kiến của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích của bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Sơn La. Vì lý do đường vào đất của nguyên đơn từ trước đến nay vẫn đi đường bê tông, khi Nhà nước thu hồi đất, căn cứ vào tờ bản đồ số 72 xã C để bồi thường cho các hộ dân, trên đất đang tranh chấp có cây gáo vàng là do gia đình trồng nên đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bị đơn.
- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không nhất trí nội dung kháng cáo của nguyên đơn.
Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Sơn La.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T bà Vũ Thị Thùy L1 tháo dỡ cọc, rào, trả lại diện tích đất 26,7m² cho gia đình bà; trả lại 108m² đất đã bị thu hồi lại cho UBND xã M, tỉnh Sơn La. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất, giải quyết là có căn cứ, đúng quy định tại 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về thời hạn kháng cáo: Ngày 29/9/2025 bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn L) kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử vào ngày 17/9/2025. Xét đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại cấp phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã M, Sơn La và bà Nguyễn Thị S đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp: Đất thực tế các bên tranh chấp khi xem xét thẩm định tại chỗ có diện tích là 133,7m², địa chỉ thửa đất tại T, xã C, huyện M (nay là T, xã M, tỉnh Sơn La).
Quá trình giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm đã xác minh và xem xét thẩm định tại chỗ có xác định hệ tọa độ và ý kiến của UBND xã M, tỉnh Sơn La đối với đất tranh chấp diện tích là 133,7m², trong đó có 108m² đất đã bị thu hồi làm "dự án giao thông từ T, xã C đến tiểu khu A, xã H, huyện M" theo Quyết định số 253/QĐ-UBND ngày 25/01/2024 của UBND huyện M, tỉnh Sơn La ban hành và đã thực hiện bồi thường xong mà chưa có văn bản, quyết định nào sửa đổi, bổ sung, thay thế, do đó diện tích 108m² thuộc quyền quản lý của UBND xã M. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không có yêu cầu khởi kiện bổ sung, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập về vấn đề thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất trên. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần diện tích đất này là có căn cứ.
[2.2] Đối với phần diện tích đất còn lại là 26,7m² nguồn gốc là do ông Nguyễn Văn B khai hoang từ năm 1991, loại đất là đất trồng cây lâu năm, ông B sử dụng đến năm 2007 thì tặng cho con là Nguyễn Văn T và Vũ Thị Thùy L1 qua xác minh tại UBND xã M, tỉnh Sơn La thì diện tích đất này vẫn nằm trong thửa số 35, tờ bản đồ số 72 xã C (nay là xã M, tỉnh Sơn La), người sử dụng đất theo quy chủ là ông Nguyễn Văn B (đã tặng cho anh T, chị L1), địa chỉ thửa đất tại T, xã C, huyện M (nay là xã M, tỉnh Sơn La). Bà M và chị N cho rằng là đất của gia đình là không có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn L), người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng trên diện tích đất đang tranh chấp có con đường mòn đi ra đường B và có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tranh chấp. Qua tiến hành xem xét thẩm định các đương sự xác định diện tích đất tranh chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng như cấp sơ thẩm đã xem xét, trên diện tích đất có 01 mầm chồi cây gáo vàng cao khoảng 03m do ông B trồng, nhưng trên diện tích đất từ đất nhà bà M ra đến đường B không có con đường mòn nào đi qua.
Từ những phân tích nêu trên, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Lường Thị M1, bà Phạm Thị N (người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn L), giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Bà Lương Thị M phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại cấp phúc thẩm là 2.400.000đ (đã nộp đủ).
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Lương Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Ông Phạm Văn L là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Lương Thị M, bà Phạm Thị N (người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn L), giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Về chi phí tố tụng tạị cấp phúc thẩm: Bà Lương Thị M phải chịu 2.400.000đ tiền xem xét thẩm định tại chỗ (bà M đã nộp đủ)
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Lường Thị M1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000255 ngày 30/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
- Ông Phạm Văn L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tòng Thị Hiền |
Bản án số 11/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 11/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị M, Phạm Văn L - Nguyễn Văn T, Vũ Thị Thuỳ L Tranh chấp quyền sử dụng đất
