|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2025/HS-ST Ngày: 31-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Ba
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2025/TLST- HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh H (tên gọi khác: không), sinh ngày 28 tháng 4 năm 1997 tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKTT: Tổ E, phường S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: K T, phường S, thành phố Đà Nẵng; Số căn cước công dân: 048097001330; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Minh H1 (sinh năm 1968) và bà: Ngô Thị Thu L (sinh năm 1968), đều còn sống. Gia đình bị cáo có 04 người con. Bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Bị cáo có vợ: Trương Lê T (sinh năm: 1996) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không
Tiền sự:
- - Ngày 03/01/2023, bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/2023/QĐ-TA.
- - Ngày 21/10/2024, bị UBND phường M (cũ) nay là phường S, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 362/QĐ-UBND, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 21/10/2024 đến 21/10/2026.
Nhân thân:
- - Ngày 22/12/2016 bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 136/QĐ-TA.
- - Ngày 26/10/2018 bị C, TP Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo QĐ số 58/QĐ-XPVPHC.
- - Ngày 30/10/2018, bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 83/QĐ-TA.
- - Ngày 15/12/2020, bị TAND TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 123/2020/QĐ-TA.
Bị cáo bị bắt ngày 03/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Ngũ Hành S, trại tạm giam số 1 Công an thành phố Đ (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 ngày 13 tháng 8 năm 2025, Công an phường S, thành phố Đà Nẵng triệu tập Nguyễn Minh H là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 362/QĐ-UBND của UBND phường M cũ (nay là phường S) về trụ sở Công an phường để kiểm tra hành chính đồng thời tiến hành thử test ma túy đối với bị cáo thì phát hiện bị cáo dương tính với chất ma túy “Methamphetamine”.
Vật chứng thu giữ: (Bút lục: 28)
- - 01 chai nhựa trong suốt, được đậy nắp kín bên trong chứa mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Minh H. (Niêm phong ký hiệu C)
- - 01 que thử test ma túy Chemtrue của bị cáo, trên que test có hiện một vạch đỏ tại ô thử MET, các ô còn lại hiện 02 vạch đỏ.
Theo Bản kết luận giám định số 814/ KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng K, Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu gửi giám định kí hiệu C có chất ma túy, loại Methaphetamine. (bút lục: 24)
Quá trình điều tra, từ lời khai nhận của bị cáo và các vật chứng thu giữ, xác định:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09 tháng 8 năm 2025, bị cáo Nguyễn Minh H gặp và ngồi nhậu với Lê Đức V (sinh năm: 1990; Trú: Tổ B, thôn G, xã H, thành phố Đà Nẵng) là bạn ngoài xã hội của bị cáo tại khu vực đường T, phường A, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, có người thanh niên trong nhóm của V (không rõ lai lịch) đưa cho bị cáo 01 cây thuốc lá điện tử để sử dụng thì bị cáo đồng ý và lấy hút được 02 hơi rồi tiếp tục ngồi chơi với nhóm V thêm một lúc nữa rồi ra về. Đến ngày 13 tháng 8 năm 2025, Công an phường S, thành phố Đà Nẵng triệu tập bị cáo về trụ sở để kiểm tra hành chính đồng thời thử test ma túy đối với bị cáo thì phát hiện bị cáo dương tính với chất ma túy “Methamphetamine”.
Tiến hành xác minh nhân thân lai lịch của người tên Lê Đức V xác định V hiện đang sinh sống cùng gia đình tại tổ B, thôn G, xã H, thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên V đã bỏ nhà đi từ tháng 08 năm 2025 đến nay, hiện V ở đâu làm gì thì gia đình, địa phương không rõ.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-KV2 ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 que thử test ma túy Chemtrue của Nguyễn Minh H vào ngày 13/8/2025 tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) bì ni lông niêm phong, mã số NS2 24064658, đựng mẫu hoàn trả theo kết luận giám định số 814KL-KTHS ngày 03/9/2025 của phòng K Công an thành phố Đ đề nghị HĐXX tịch thu tiêu huỷ.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09 tháng 8 năm 2025, tại khu vực đối diện nhà B đường T, phường A, thành phố Đà Nẵng; Nguyễn Minh H đang là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 362/QĐ-UBND của UBND phường M cũ (nay là phường S) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại “Methamphetamine".
Bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận: Bị cáo là người nghiện ma tuý đã nhiều lần sử dụng ma tuý (lần đầu tiên năm 2015), và đã bị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhiều lần, nhưng lần gần nhất là áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn là 24 tháng, kể từ ngày 19/12/2022 theo Quyết định số 02/QĐTA ngày 03/01/2023 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (cũ). Nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng, sau khi chấp hành xong bị cáo đang là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện của Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ), nay là UBND phường S, phố Đ theo Quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú số 362/QĐ-UBND, ngày 21/10/2024 với thời hạn là 02 năm kể từ ngày 21/10/2024 đến ngày 21/10/2026. Ngày 09/8/2025, bị cáo gặp và ngồi nhậu với Lê Đức V là bạn ngoài xã hội của bị cáo tại khu vực đường T, phường A, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, có người thanh niên trong nhóm của V (không rõ lai lịch) đưa cho bị cáo 01 cây thuốc lá điện tử để sử dụng thì bị cáo đồng ý và lấy hút được 02 hơi rồi tiếp tục ngồi chơi với nhóm V thêm một lúc nữa rồi ra về. Đến ngày 13/8/2025, Công an phường S, thành phố Đà Nẵng triệu tập bị cáo về trụ sở để kiểm tra hành chính đồng thời thử test ma túy đối với bị cáo thì phát hiện bị cáo dương tính với chất ma túy “Methamphetamine”.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09 tháng 8 năm 2025 bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma tuý khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
-Về nhân thân:
- - Ngày 22/12/2016 bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 136/QĐ-TA.
- - Ngày 26/10/2018 bị C, TP Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo QĐ số 58/QĐ-XPVPHC.
- - Ngày 30/10/2018, bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 83/QĐ-TA.
- - Ngày 15/12/2020, bị TAND TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 123/2020/QĐ-TA.
Tiền sự:
- - Ngày 03/01/2023, bị TAND quận Sơn Trà áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/2023/QĐ-TA.
- - Ngày 21/10/2024, bị UBND phường M (cũ) nay là phường S, TP Đà Nẵng ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 362/QĐ-UBND, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 21/10/2024 đến 21/10/2026.
[4] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên. HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội;
[5] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 que thử test ma túy Chemtrue của Nguyễn Minh H vào ngày 13/8/2025 tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) bì ni lông niêm phong, mã số NS2 24064658, đựng mẫu hoàn trả theo kết luận giám định số 814KL-KTHS ngày 03/9/2025 của phòng K Công an thành phố Đ HĐXX tịch thu tiêu huỷ.
[6] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với người bạn của Lê Đức V có hành vi đưa ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch của người này, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 03 tháng 10 năm 2025).
- Xử lý vật chứng:
Đối với 01 que thử test ma túy Chemtrue của Nguyễn Minh H vào ngày 13/8/2025 tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì ni lông niêm phong, mã số NS2 24064658, đựng mẫu hoàn trả theo kết luận giám định số 814KL-KTHS ngày 03/9/2025 của phòng K Công an thành phố Đ.
( Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố Đ và phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Đà Năng.)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 108/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về hình sự - sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 108/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Huy phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý
