|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2025/DS - PT
Ngày 29 - 12 - 2025
V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Công và ông Nguyễn Tử Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS -ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2025/QĐ - PT ngày 28/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 91/2025/QĐ-PT ngày 18/12/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Mai Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà D, đường số B, khu phố G, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
* Bị đơn:
1. Ông Mai Văn T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Số nhà A, hẻm D L (T), phường R, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn T1: Bà Trần Thị N, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm B (H), xã H, tỉnh Ninh Bình (Văn bản ủy quyền ngày 22/7/2025); có mặt.
2. Ông Mai Văn G, sinh năm 1972; địa chỉ: Số nhà C ngách A, phố P, phường P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn G: Bà Hoàng Thị Thu N1, sinh năm 2001; địa chỉ: Số E H, phường N, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 12/8/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Mai Văn G: Ông Trình Kiên C – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Mai Thị M, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm B (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
2. Ông Mai Văn K, sinh năm 1961; địa chỉ: Số nhà G Đường số C, khu phố H, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
3. Bà Mai Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm A (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
4. Bà Mai Thị P, sinh năm 1976; địa chỉ: Số nhà D Đường số B, khu phố G, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
5. Bà Trần Thị N, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm B (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M, ông K, bà L và bà P là ông Mai Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà D, đường số B, khu phố G, phường C, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Mai Văn T trình bày: Cụ Mai Văn N2, sinh năm 1931, chết ngày 09/5/2024 và cụ Nguyễn Thị Â, sinh năm 1936, chết ngày 10/4/2021. Hai cụ sinh được 7 người con gồm: Bà Mai Thị M, ông Mai Văn K, ông Mai Văn T1, ông Mai Văn T, bà Mai Thị L, ông Mai Văn G và bà Mai Thị P. Các cụ không có con riêng, không có con nuôi.
Cha mẹ đẻ của cụ N2, cụ Â đều chết trước 02 cụ. Cụ N2 và cụ Â chết không để lại di chúc. Khi còn sống 02 cụ có tài sản chung gồm:
-Thửa đất số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) diện tích 1.345m² (trong đó đất ở 360m², đất vườn 690m² và đất ao 295m²) vị trí tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình); đã được UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/01/1997 đứng tên hộ ông Mai Văn N2. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Mai Văn T1 giữ.
- 02 thửa đất ruộng nông nghiệp có tổng diện tích là 1.774m² gồm: Thửa 37, tờ bản đồ số 126 (tờ số 4 xã H cũ) diện tích 1.450m² (LUC); thửa 151, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) diện tích 324m² (LUC). Diện tích đất này là tiêu chuẩn được Nhà nước giao cho cụ N2, cụ Â, ông G và bà P mỗi người được giao 443,5m² đất.
Ngoài các tài sản trên thì cụ N2, cụ Â có 01 nhà cấp bốn xây dựng từ năm 1960 đã xuống cấp (trước khi xét xử gia đình ông T1 đã tự tháo dỡ), các cụ không có khoản nợ nào để lại.
Do chị em trong gia đình không tự phân chia di sản thừa kế của 02 cụ để lại được nên ông khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Â theo quy định pháp luật. Cụ thể:
- Đối với thửa đất thổ diện tích 1.345m² chia cho 07 suất thừa kế, ông và bà M nhận phần đất có nhà, diện tích đất còn lại chia điều cho 5 anh em còn lại.
- Đối với hai thửa đất ruộng nông nghiệp, chia cho ông Mai Văn G thửa 151, diện tích 324m² vì thửa đất này nằm liền kề với đất được chia của ông G. Thửa đất số 37, diện tích 1.450m² ông, bà M, ông K, bà P tặng cho phần thừa kế được chia cho bà L. Ngoài ra, bà P còn tặng cả phần tiêu chuẩn được giao cho bà Mai Thị L quản lý sử dụng.
- Về công trình xây dựng trên đất do ông và ông G bỏ tiền ra xây dựng mỗi bên đóng góp 50%, do ông và bà M nhận phần đất có nhà nên ông thanh toán ½ giá trị nhà cho ông G theo giá Hội đồng định giá đưa ra.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2025và các lời khai trong quá trình tổ tụng, bị đơn ông Mai Văn G và người đại diện theo uỷ quyền của ông G, bà Hoàng Thị Thu N1 thống nhất trình bày:
Ông Giáp C1 nhận lời khai của ông Mai Văn T về quan hệ huyết thống gia đình, về thời điểm cụ N2, cụ Â chết, về nguồn gốc tài sản tranh chấp. Ông đồng ý chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ Â để lại là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 7. Nguyện vọng của ông chia thừa kế theo quy định của pháp luật, ông xin nhận suất thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất phần có nhà, vì phần đất có công trình nhà do ông một mình bỏ tiền ra xây dựng. Do ông là người có công chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già nên ông xin được nhận di sản nhiều hơn các thừa kế khác, số còn lại ông sẽ thanh toán chênh lệch cho các chị em nhận ít hơn.
Về yêu cầu thừa kế thửa đất nông nghiệp. Ông xin nhận suất thừa kế cũng như tiêu chuẩn ruộng nông nghiệp của ông là thửa 151, diện tích 324m² vì liền kề với thửa đất thổ được chia của ông. Ông không yêu cầu phải thanh toán giá trị chênh lệch cho ông.
Lý do ông xin thay đổi nội dung hoà giải thành tại Toà án ngày 18/7/2025 vì ông và ông T1 được nhận phần đất có nhà chiều rộng 11,8m. Tuy nhiên, ông nhận thấy việc phân chia như vậy không rõ ràng về chiều cạnh, kích thước của từng người có nguy cơ xảy ra tranh chấp với ông T1 sau này nên ông đã làm đơn thay đổi. Ngoài ra, ông đề nghị Tòa án xem lại biên bản họp gia đình ngày 04/11/2018 vì một số thành viên trong gia đình đã giao quyền cho ông sử dụng nhà đất của bố mẹ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/7/2025 và lời khai trong quá trình tổ tụng, bị đơn ông Mai Văn T1 và người đại diện theo uỷ quyền của ông T1, bà Trần Thị N thống nhất trình bày:
Ông T1 công nhận lời khai của ông Mai Văn T về quan hệ huyết thống gia đình, về thời điểm cụ N2, cụ Â chết, về nguồn gốc tài sản tranh chấp. Ông đồng ý chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ Â để lại là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 7. Nguyện vọng của ông chia thừa kế theo quy định của pháp luật, ông xin nhận suất thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất phần có nhà. Vì ông bà không có chỗ ở nào khác, hiện nay vợ chồng ông bà đang quản lý nhà đất từ năm 2021 đến nay, ông bà không xây dựng công trình gì thêm, nhất trí thanh toán giá trị nhà cho ông T và ông G theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu chia di sản thừa kế thửa đất nông nghiệp. Ông xin nhận suất thừa kế là thửa 151, diện tích 324m² liền kề với thửa đất được chia, ông không có nhu câu chia bằng hiện vật tại thửa đất ruộng số 37.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2025 và lời khai trong quá trình tổ tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị M trình bày.
Bà công nhận lời khai của ông Mai Văn T về quan hệ huyết thống gia đình, về thời điểm cụ N2, cụ Â chết, về nguồn gốc tài sản tranh chấp. Bà đồng ý chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ Â để lại là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 7. Nguyện vọng của bà chia thừa kế theo quy định của pháp luật, bà xin nhận suất thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và tặng lại suất thừa kế được hưởng cho ông Mai Văn T, bà không yêu cầu ông T phải thanh toán giá trị cho bà.
Đối với phần đất nông nghiệp bà nhất trí tặng suất thừa kế của bà được hưởng cho bà Mai Thị L, không yêu cầu bà L thanh toán giá trị.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23, 27, 29/5/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn K, bà Mai Thị L và bà Mai Thị P thống nhất cùng trình bày.
Các ông, bà công nhận lời khai của ông Mai Văn T về quan hệ huyết thống gia đình, về thời điểm cụ N2, cụ Â chết, về nguồn gốc tài sản tranh chấp. Ông bà nhất trí chia di sản thừa kế là thửa đất số 155 theo quy định của pháp luật. Nguyện vọng của các ông bà xin nhận suất thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất.
Về việc bà M, ông K và bà L ký vào biên bản họp gia đình ngày 04/11/2018 với ý định giao quyền sử dụng đất cho ông G quản lý, sử dụng sau khi bố mẹ qua đời, nhưng với điều kiện ông G phải chăm sóc bố mẹ chu đáo lúc tuổi già. Tuy nhiên, ông G không chăm sóc mà đưa cụ Â vào Viện dưỡng lão H khoảng 7 tháng, dùng gói dịch vụ 8 triệu đồng, ngoài dịch vụ chăm sóc thì tiền ăn cho cụ Â chỉ có 1.000.000đ/01 tháng, cụ Â từ 72kg xuống còn 37 kg, thân hình tiều tuỵ nên buộc chị em phải bàn bạc làm đơn mới đón cụ Â về nhà để chị em chia nhau chăm sóc. Về số tiền chăm sóc cụ Â tại H, không phải ông G bỏ tiền ra chăm, cụ thể bố mẹ các ông bà có 17 chỉ vàng và tiền mặt, ông K góp 150.000.000đ...đều đưa trực tiếp cho ông G giữ chi tiêu. Sau khi cụ Â về nhà, ông G đã bỏ mặc không chăm sóc, không đóng góp tiền nuôi cụ Â còn sống, cũng như chi phí tang lễ khi cụ Â qua đời. Do vậy, đến nay biên bản này không có hiệu lực.
Đối với đất ruộng nông nghiệp: Bà Mai Thị L nhất trí nhận đất nông nghiệp do bà M, ông K, ông T và bà P được hưởng thừa kế tặng cho. Ngoài ra, bà đồng ý nhận phần đất ruộng tiêu chuẩn của bà P tặng cho. Bà nhất trí thanh toán giá trị đất ruộng thừa kế cho ông Mai Văn T1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Mai Văn G trình bày: Bị đơn ông G nhất trí chia các di sản thừa kế do nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận việc ông Mai Văn T khai cùng bỏ tiền ra xây dựng nhà với ông G với các lý do, 05 hoá đơn ông T giao nộp tại phiên toà, số tiền gửi cho ông G từ năm 2008 đến năm 2018, tổng cộng hơn 200.000.000đ, không khớp với số tiền mỗi bên đóng góp để xây dựng, về thời gian không trùng với thời gian xây dựng, trừ 01 hoá đơn năm 2018 có trùng với việc xây cổng, tường rào. Lý do, tại phiên hoà giải thành tại Tòa án ngày 18/7/2025 ông G chấp nhận trả tiền nhà cho ông T vì mong muốn hoà giải thành, sớm kết thúc vụ kiện. Do vậy, Luật sư đề nghị Toà án công nhận ngôi nhà cấp bốn xây trên đất của 02 cụ do ông G bỏ tiền ra xây dựng.
Về biên bản họp gia đình ngày 04/11/2018 có chữ ký của bà M, ông K và bà L nội dung đồng ý giao quyền sử dụng đất cho ông G. Đến nay, bà M, ông K và bà L cho rằng ông G không chăm sóc cụ N2, cụ Â như thoả thuận là không đúng. Vì khi cụ Â sức khoẻ yếu, ông G đã đưa cụ Â đến Viện dưỡng lão mục đích để chăm sóc cho cụ tốt hơn, tại phiên toà các đương sự cũng thừa nhận ông G đã bỏ ra hơn 8.000.000 đồng một tháng để nuôi dưỡng cụ, trong khi gói tối thiểu chỉ có 5.000.000đ, đối với số tiền trên của những năm 2018 không phải là thấp. Do các chị em ông G không đồng ý với cách chăm sóc của ông G nên đã thay đổi. Sau khi cụ N2 ốm, ông G cũng đã gửi tiền về nhà, nhờ vợ chồng ông T1, bà N chăm sóc hộ. Do vậy, ông đề nghị Toà án cân nhắc cho ông G được hưởng thừa kế nhiều hơn các đồng thừa kế khác, ưu tiên cho ông G được sử dụng phần đất có nhà, để ông G có chỗ thờ cúng bố mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS -ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 611, 612, 613, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn T về việc chia di sản thừa kế của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Â.
- Xác nhận quyền sử dụng diện tích 1.345m² (trong đó đất ONT 360m², CLN 690m², NTS 295m²) tại thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 ngày 15/01/1997 mang tên hộ ông Mai Văn N2 có vị trí tại xóm B (H), xã H, tỉnh Ninh Bình là di sản thừa kế của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Â, có tổng trị giá là 9.678.875.000đ (Chín tỷ sáu trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi năm nghìn đồng). Xác nhận 887m² đất ruộng trong tổng số diện tích 1.774m² tại thửa số 37 và 151, tờ bản đồ số 126, 129 ( tờ bản đồ số 4, 7 xã H cũ) xã H thuộc di sản thừa kế của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Â có trị giá 48.785.000đ (Bốn mươi tám triệu bảy trăm tám mươi năm nghìn đồng). Ngoài ra, đất ruộng của hộ cụ N2 còn có 887m² là tiêu chuẩn ruộng của ông G và bà P. Bà P tặng cho tiêu chuẩn của mình cho bà L 443,5m² trị giá 24.392.500đ (Hai mươi bốn triệu ba trăm chín mươi hai nghìn năm trăm đồng).
- Xác nhận người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Âu L1 bà Mai Thị M, ông Mai Văn K, ông Mai Văn T1, ông Mai Văn T, bà Mai Thị L, ông Mai Văn G và bà Mai Thị P.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị M tặng cho phần thừa kế di sản được hưởng của mình cho ông T không yêu cầu ông T thanh toán giá trị.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị M, ông Mai Văn K, ông Mai Văn T và bà Mai Thị P tặng cho phần thừa kế di sản là đất ruộng nông nghiệp được hưởng của mình cho bà L không yêu cầu bà L thanh toán giá trị.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị P tặng cho phần tiêu chuẩn đất ruộng nông nghiệp được nhà nước giao cho bà L không yêu cầu bà L thanh toán giá trị.
- Về chia hiện vật:
- Đối với đất thổ:
- Chia cho ông Mai Văn T được quyền sử dụng diện tích 400m² đất trong đó (loại đất ONT 100m², CLN 206m², NTS 94m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ)vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 2.822.500.000đ (Hai tỷ tám trăm hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) và được sở hữu 01 nhà cấp bốn có trị giá 325.480.000đ (Ba trăm hai mươi năm triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (1,2,3,14,1) ký hiệu S1 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Chia cho ông Mai Văn G được quyền sử dụng diện tích 187m² đất trong đó (loại đất ONT 52m², CLN 96m², NTS 39m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ)vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 1.361.125.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi mốt triệu một trăm hai mươi năm nghìn đồng) và được sở hữu ½ cổng + sân có trị giá 7.417.500đ. Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (3,4,13,14,3) ký hiệu S2 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Chia cho ông Mai Văn T1 được quyền sử dụng diện tích 188m² đất trong đó (loại đất ONT 52m², CLN 96m², NTS 40m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 1.366.200.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) và được sở hữu ½ cổng + sân có trị giá 7.417.500đ. Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (4,5,12,13,4) ký hiệu S3 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Chia cho ông Mai Văn K được quyền sử dụng diện tích 188m² đất trong đó (loại đất ONT 52m², CLN 96m², NTS 40m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 1.366.200.000đ (Một tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (5,6,11,12,5) ký hiệu S4 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Chia cho bà Mai Thị L được quyền sử dụng diện tích 189m² đất trong đó (loại đất ONT 52m², CLN 97m², NTS 40m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 1.371.275.000đ (Một tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi năm nghìn đồng). Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (6,7,10,11,6) ký hiệu S5 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Chia cho bà Mai Thị P được quyền sử dụng diện tích 193m² đất trong đó (loại đất ONT 52m², CLN 99m², NTS 42m²) thuộc thửa số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ)vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2 có trị giá là 1.391.575.000đ (Một tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi năm nghìn đồng). Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (7,8,9,10,7) ký hiệu S6 theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Đối với đất ruộng nông nghiệp.
- Chia cho ông Mai Văn G được quyền sử dụng thửa đất số 151,tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ) diện tích 324 (LUC) vị trí thửa đất xóm 2 (H), xã H, tỉnh Ninh Bình có trị giá 17.820.000đ.
- Chia cho bà Mai Thị L được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 37, tờ bản đồ số 126 (tờ số 4 xã H cũ) vị trí xã H, tỉnh Ninh Bình gồm: Diện tích 1006,5 (LUC) của cụ N2, cụ Â và một phần đất tiêu chuẩn của ông G và được hưởng thêm 443,5m² đất tiêu chuẩn của bà P, do bà P tặng cho không yêu cầu thanh toán giá trị. Tổng cộng bà L được sử dụng 1.450m² có trị giá 79.750.000đ.
- Đối với đất thổ:
- Về nghĩa vụ thanh toán:
- Buộc ông Mai Văn T phải thanh toán chênh lệch chia tài sản tổng cộng là 208.000.000đ (Hai trăm linh tám triệu đồng) cho các đương sự sau:
- Trả cho ông Mai Văn G số tiền 162.740.000đ + 11.765.000đ + 2.000.000đ – 7.417.500đ = 169.087.500đ.
- Trả cho ông Mai Văn T1 8.996.000đ – 7.417.500đ = 1.578.500đ.
- Trả cho ông Mai Văn K số tiền 18.996.000đ;
- Trả cho bà Mai Thị L số tiền 16.229.000đ;
- Trả cho bà Mai Thị P số tiền 1.121.000đ.
- Buộc ông Mai Văn T1 phải thanh toán trị giá công trình cho ông Mai Văn G số tiền 7.417.500đ
- Buộc bà Mai Thị L phải thanh toán trị giá đất nông nghiệp được hưởng cho ông Mai Văn T1 số tiền là 6.969.285đ + 2.256.800đ = 9.226.000đ.
- Buộc ông Mai Văn T phải thanh toán chênh lệch chia tài sản tổng cộng là 208.000.000đ (Hai trăm linh tám triệu đồng) cho các đương sự sau:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chia theo quyết định của bản án tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Về nghĩa vụ bàn giao:
- Ông Mai Văn T1 và bà Trần Thị N đang quản lý, sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm bàn giao di sản cho ông Mai Văn K, ông Mai Văn T, bà Mai Thị L, ông Mai Văn G và bà Mai Thị P sử dụng theo quyết định của bản án.
- Ông Mai Văn T1 có trách nhiệm giao lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 đứng tên hộ ông Mai Văn N2 cho các đương sự được chia đất để làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/8/2025 Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình đã có Quyết định số 16/2025/QĐ-SCBSBA về việc sửa đổi, bổ sung Bản án dân sự sơ thẩm theo đó tại dòng 6 trang 12 từ dưới lên trên phần quyết định của bản án sơ thẩm được sửa chữa bổ sung lại như sau: “8.1. Buộc ông Mai Văn T phải thanh toán chênh lệch chia tài sản tổng cộng là 207.012.000đ (Hai trăm linh bảy triệu không trăm mười hai nghìn đồng) cho các đương sự sau:”
Trong thời hạn luật định, bà Hoàng Thị Thu N1 đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Mai Văn G có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Toà án sơ thẩm không xem xét sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự theo Biên bản họp gia đình ngày 04/11/2018 – đây là lý do khiến ông G đã chi trả và chịu phần lớn chi phí chăm sóc cho cụ N2 và cụ Â; ông G là người chi trả toàn bộ chi phí xây dựng căn nhà trên thửa đất số 155. Toà án cho rằng ông G đồng ý trả cho ông T 148.000.000 đồng tại biên bản hoà giải thành ngày 18/7/2025 để công nhận ông T có công sức đóng góp xây dựng nhà là chưa hợp lý. Toà án chưa xem xét lời khai của ông T2 là người trực tiếp làm điện nước cho ngôi nhà.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Mai Văn G không rút kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Mai Văn G đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn ông G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu quan điểm:
Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư lý đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Thu N1 là đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Mai Văn G. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình. Án phí đương sự kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Hoàng Thị Thu N1 là đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn ông Mai Văn G trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Vì vậy được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo:
- Thời hiệu khởi kiện: Xác định cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Âu L1 vợ chồng, cụ N2 chết ngày 09/5/2024 và cụ Â chết ngày 10/4/2021, đều không để lại di chúc. Do các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế nên Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không xem xét về thời hiệu là đúng quy định.
- Người thừa kế: Trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai của các đương sự đều thống nhất xác định cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Âu S được 07 con chung là bà Mai Thị M, ông Mai Văn K, ông Mai Văn T1, ông Mai Văn T, bà Mai Thị L, ông Mai Văn G và bà Mai Thị P. Cụ N2, cụ Â không có con riêng, không có con nuôi. Cha mẹ đẻ của cụ N2, cụ Â đều chết trước 02 cụ. Căn cứ Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất của cụ N2, cụ Âu là 07 người con đẻ của 02 cụ.
- Về di sản thừa kế:
Các đương sự đều xác định di sản thừa kế của cụ Mai Văn N2 và cụ Nguyễn Thị Â để lại là diện tích đất 1.345m² (trong đó đất ở 360m², đất vườn 690m² và đất ao 295m²) tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 129 (tờ số 7 xã H cũ), địa chỉ xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri L 255899 do UBND huyện H, tỉnh Nam Định cấp ngày 15/01/1997 cho hộ ông Mai Văn N2, nguồn gốc đất trên do cụ N2, cụ Â tạo lập mà có. Ngoài ra, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ N2 còn có các thửa đất nông nghiệp. Sau dồn điền có 02 thửa với tổng diện tích là 1.774m² gồm: Thửa 37, diện tích 1.450m²; thửa 151, diện tích 324m². Các thửa đất ruộng này là tiêu chuẩn được Nhà nước giao cho cụ N2, cụ Â, ông G và bà P mỗi người được giao: 1.774m²: 4 = 443,5m².
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 19/6/2025 thì di sản thừa kế của cụ N2, cụ Â gồm có 1.345m² đất có trị giá: Đất ở (ONT) là 13.000.000đ/01m² x 360m² = 4.680.000.000đ; đất vườn (CLN), ao (NTS) có trị giá 5.075.000đ/01m²x 985m² = 4.998.875.000đ. Tổng trị giá là: 9.678.875.000đồng.
Tài sản gắn liền với thửa đất gồm: 01 nhà xây bị lợp ngói nam do cụ N2, cụ Â xây dựng năm 1960 đã xuống cấp, hết giá trị khấu hao (trước khi xét xử đã tháo dỡ). Tài sản do ông T, ông G xây dựng gồm: 01 nhà cấp bốn lợp ngói diện tích 16,3m x 9m có trị giá 325.480.000 đồng; 01 sân lát gạch đỏ trước nhà có trị giá 14.670.000đ; 01 cổng, trụ cổng, cánh cổng có trị giá 15.000.000đ và tường rào phía trước nhà có trị giá 4.000.000đ. Ngoài ra trên đất có trồng một số cây trồng lâu năm các đương sự không yêu cầu định giá, nếu đất được chia ở vị trí có cây gì thì người đó được sử dụng. Trị giá đất ruộng nông nghiệp của 02 cụ: 55.000đ x 887m² = 48.785.000đ.
- Về công sức duy trì, bảo quản di sản và chăm sóc người để lại di sản là trách nhiệm của các người con, lời khai của các đương sự và lời thừa nhận của ông G thì ông G không phải là người duy nhất chăm sóc 02 cụ lúc tuổi già, năm 2018 ông G đưa cụ Â vào viện dưỡng lão khoảng 9 tháng, chi phí đều do ông G, ông K, ông T chi trả, đến năm 2019 thì các con của cụ Â đón về chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cụ mất năm 2021, cụ N2 mất 2024, ông G không chăm sóc và lo ma chay cho bố mẹ. Bà M, ông K, bà L xác định có ký vào biên bản họp gia đình ngày 04/11/2018 với ý định giao quyền sử dụng đất cho ông G quản lý sử dụng sau khi bố mẹ qua đời nhưng với điều kiện ông G phải chăm sóc bố mẹ chu đáo lúc tuổi già. Tuy nhiên ông G đã không thực hiện đúng như thoả thuận nên đến nay bà M, ông K, bà L phản đối không nhất trí thực hiện, biên bản họp gia đình nội dung và hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật, không có giá trị với các bên. Đại diện theo uỷ quyền của G và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông G cho rằng, ông G có công chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già, một số thành viên trong gia đình đã ký văn bản cho ông G quản lý tài sản, yêu cầu này không được Toà án sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ, phần di sản để lại của 02 cụ N2, cụ Â được chi đều ngang bằng nhau cho các người con là phù hợp.
- Về chia di sản: Quá trình giải quyết vụ án không có người thừa kế nào từ chối quyền hưởng di sản của vụ N2, cụ Â. Các đương sự đều có nguyện vọng chia quyền sử dụng đất để sử dụng. Toà án cấp sơ thẩm đã chia di sản thừa kế của 02 cụ cho 07 kỷ phần bằng hiện vật và có thanh toán chênh lệch chia tài sản giữa các kỷ phần trên cơ sở xem xét nguồn gốc, hiện trạng, nhu cầu và công năng sử dụng đất của các đồng thừa kế và đảm bảo thi hành án và đảm bảo quyền lợi của các bên.
Riêng về công trình xây dựng trên đất và thanh toán chênh lệch đại diện theo uỷ quyền của ông G kháng cáo cho rằng ông G là người đã chi trả toàn bộ chi phí xây dựng căn nhà trên thửa đất 155, nhưng theo lời trình bày của các đương sự, năm 2016 ông T và ông G có xây dựng công trình trên đất gồm 1 căn nhà cấp 4 lợp ngói trị giá 325.480.000đ, sân lát gạch đỏ trị giá 14.670.000đ, trụ và cánh cổng trị giá 15.000.000đ, tường rào 4.000.000đ (giá trị theo kết quả xem xét thẩm định, định giá). Tại phiên toà các đương sự cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh ai là người bỏ chi phí xây dựng nhiều hơn nên Toà án cấp sơ thẩm đã chia đều giá trị công trình xây dựng cho hai ông, căn cứ vào việc chia đất bằng hiện vật thì vị trí ngôi nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất ông T được chia, để đảm bảo việc sử dụng ngôi nhà Toà án sơ thẩm đã chia ông Mai Văn T được sử dụng ngôi nhà và trả giá trị chênh lệnh cho ông G, cụ thể: 325.480.000đ : 2 = 162.740.000đ; công trình xây dựng là cổng và sân nằm trên vị trí diện tích đất được chia cho ông G và T1 trị giá 29.670.000đ, mỗi người được hưởng 14.835.000đ, ông G thanh toán cho ông T 7.417.500đ chênh lệch, ông T1 phải thanh toán cho ông T, ông G mỗi người 7.417.500đ; tường rào có giá trị 4.000.000đ, ông T tự nguyện trả cho ông G ½ có giá trị 2.000.000đ, số tiền còn lại ông T không yêu cầu các đương sự phải trả.
Về chia đất rộng nghiệp là di sản thừa kế của cụ N2, cụ Â: Xác định hộ cụ Mai Văn N2 được nhà nước giao cho sử dụng 02 thửa đất ruộng nông nghiệp với diện tích là 1.774m² gồm: Thửa 37, diện tích 1.450m² tờ bản đồ số 126 ( tờ số 4 xã H cũ); thửa 151, tờ bản đồ số 129 ( tờ bản đồ số 7 xã H cũ) diện tích 324m² là tiêu chuẩn của cụ N2, cụ Â, ông G, bà P mỗi người được giao 443,5m². Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu thu thập Toà án sơ thẩm đã xác định những người có tiêu chuẩn đất nông nghiệp, xác định hàng thừa kế, nguyện vọng của các đương sự để phân chia di sản thừa kế là đất nông nghiệp của cụ N2, cụ Âu là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của người có tiêu chuẩn đất nông nghiệp được nhà nước giao, đảm bảo hàng thừa kế được hưởng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng đất. Toà án sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự trong việc tặng cho phần thừa kế di sản được hưởng, các đương sự không kháng cáo về phần này.
Tại cấp phúc thẩm bà Hoàng Thị Thu N1 là đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn ông Mai Văn G kháng cáo không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận, HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình là phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Thu N1 là đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn ông Mai Văn G. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 18/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Ninh Bình.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mai Văn G phải nộp 300.000 đồng. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Hoàng Thị Thu N1 là đại diện theo uỷ quyền của ông Mai Văn G đã nộp theo biên lai số 0000868 ngày 09/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình được đối trừ thi hành án.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn San |
Bản án số 108/2025/DS - PT ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 108/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế”
