Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/DS-PT

Ngày: 23-12-2025

V/v: Tranh chấp đòi

quyền sử dụng đất nông nghiệp.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Sơn và ông Đinh Huy Lưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2025/TLPT- DS ngày 31/10/2025 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp” do Bản án sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 16-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957, có đơn xin vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thúy V sinh năm 1984, có đơn xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn:

  • + Cụ Nguyễn Thị C sinh năm 1932 (đã chết);
  • + Bà Nguyễn Thị D sinh năm 1967, có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Nguyễn Thị C:

  • + Bà Nguyễn Thị N sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954, có đơn xin vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961, có đơn xin vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964, có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1968, có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Ninh Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng Đ - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.

  • - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961, có đơn xin vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964, có mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, có mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình.

- Ông Hoàng Văn H2, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bố bà là cụ Nguyễn Văn T và mẹ bà là cụ Nguyễn Thị C, sinh được 07 người con gồm: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị L. Khoảng năm 1993, gia đình bà có 06 khẩu được chia ruộng 115 gồm: Cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thúy V; tiêu chuẩn mỗi người được chia là 1,1 sào ruộng ở tại cánh đồng Đ, Đồng T, Gốc S và Lải M. (Riêng Cụ T đã chết, bà H, bà Y đã đi lấy chồng nên không được giao chia ruộng). Tổng diện tích được chia là 8,5 sào, cụ thể diện tích từng cánh đồng, số đo các cạnh, vị trí thửa đất, giáp những ai thì bà không nắm được. Sau khi được giao chia ruộng, bà không sử dụng mà để cho mẹ bà là cụ C và em gái là bà D sử dụng. Năm 2013, diện tích đất nông nghiệp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số tờ thửa bản đồ bà không biết. Khi được giao chia đất là đất nông nghiệp trồng lúa nước, không có cây cối hoa màu gì khác. Về nghĩa vụ nộp với nhà nước: Do cụ C, bà D sử dụng ruộng thì phải nộp hàng năm, cụ thể nộp bao nhiêu thì bà không biết. Do địa phương giao chia đất ruộng cho hai mẹ con bà chứ không có giấy tờ gì xuất trình cho Tòa án. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án buộc cụ C, bà D phải trả lại cho bà phần diện tích đất nông nghiệp là 1,1 sào ở cánh Đ tại Tổ dân phố D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam đã được cấp chung thửa trong 4 thửa đất đứng tên hộ Cụ Nguyễn Thị C.

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thúy V trình bày: Năm 1993, gia đình chị được nhà nước giao chia đất nông nghiệp, gồm 06 khẩu là: Cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị N và chị (Nguyễn Thúy V. Đến năm 2019, Nhà nước cấp chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Nguyễn Thị C. Kể từ khi giao chia đất nông nghiệp mẹ con chị đều canh tác trên ruộng được chia. Năm 2000 mẹ chị và C1 Nguyễn Thị C cùng dì chị là bà Nguyễn Thị D sử dụng. Nay chị có nhu cầu sử dụng ruộng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc cụ C và bà D phải trả cho chị 1,1 sào ruộng đất nông nghiệp ở cánh Đ, thửa 017, tờ bản đồ số 1 tại Tổ dân phố D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam.

* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là cụ Nguyễn Thị C khai: Cụ C thống nhất lời khai về quan hệ huyết thống như phía nguyên đơn trình bày. Về việc giao chia đất cụ chỉ nhớ trước đây khi dồn đổi ruộng năm 1993 thì gia đình cụ được chia 05 suất ruộng, mỗi suất được chia là bao nhiêu, ở cánh đồng nào thì cụ không nhớ. Từ sau khi được giao chia, cụ và con gái là Nguyễn Thị D canh tác và đóng sản phẩm hàng năm. Nay xảy ra tranh chấp cụ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn là bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà D cũng thống nhất lời khai về quan hệ huyết thống như phía nguyên đơn trình bày. Hộ gia đình cụ C được Nhà nước giao chia đất 115 vào năm thì bà không nhớ, bà chỉ nhớ mỗi khẩu được giao chia 1 sào ruộng và 01 miếng mạ; hộ cụ C có 04 khẩu được giao chia gồm: Cụ C, bà H1, bà D và bà L; tổng diện tích đất được giao chia là bao nhiêu m² thì bà cũng không biết. Vị trí ruộng hiện tại ở những cánh đồng gồm Đồng Trên và Đồng Q; cụ thể diện tích, số thửa, tờ bản đồ, số đo các cạnh thì bà không biết. Diện tích đất lúc giao chia là đất ruộng, mục đích sử dụng trồng lúa; hàng năm bà và cụ C đóng sản phẩm đầy đủ. Diện tích đất được giao chia đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm nào bà thì không biết, chỉ biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ Cụ Nguyễn Thị C. Hiện nay giấy chứng nhận do bà quản lý, không bị cầm cố, thế chấp và không khiếu nại thắc mắc gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hộ có 04 khẩu được giao chia là gồm cụ C, bà H1, bà D và bà L; bà H, bà N, bà N1 không được giao chia chung với cụ C vì các bà đã đi lấy chồng. Hiện nay bà là người đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp vì bà không lấy chồng và ở cùng với cụ C. Trên đất không có tài sản, cây cối, công trình gì. Bà chỉ nhớ khi bà N lấy chồng là ông Nguyễn Minh C2; sau đó ông C2 là liệt sỹ thì bà N quay về ở với bố mẹ bà, sau lại lấy ông H3 (ở C, tỉnh Hòa Bình), ông H3 đã chết hay chưa bà không biết. Ông H3 và bà N sinh ra được chị Nguyễn Thúy V. Trước khi bà N đi lấy chồng quay về không liên quan đến sổ hộ khẩu của gia đình cụ C. Do bà N không sử dụng phần ruộng cấy của mình nên khi nghe xã thông báo trên loa đài nên bà N không có thắc mắc gì về ruộng; vì vậy theo bà, bà N và chị V không có tiêu chuẩn đất ruộng nữa.

Nay bà N và chị V khởi kiện đòi lại ruộng thì bà không nhất trí vì bà N đã bỏ không sử dụng ruộng đã hơn 30 năm nay.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Hộ cụ C được Nhà nước giao chia đất 115 vào năm nào, gồm bao nhiêu nhân khẩu được chia, tổng diện tích đất ruộng được giao chia là bao nhiêu m² thì các bà không nhớ; các bà chỉ nhớ mỗi khẩu được giao chia 1 sào ruộng và 01 miếng mạ. Hiện nay bà D là người đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp; trên đất không có tài sản, cây cối, công trình gì. Đối với tiêu chuẩn đất ruộng của bà được giao thì bà đã nói để cho bà D sử dụng.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L trình bày: Hộ cụ C được Nhà nước giao chia đất 115 vào năm nào, gồm bao nhiêu nhân khẩu được chia, tổng diện tích đất ruộng được giao chia là bao nhiêu m² thì các bà không nhớ; các bà chỉ nhớ mỗi khẩu được giao chia 1 sào ruộng và 01 miếng mạ; các bà chỉ biết diện tích đất đứng tên Cụ Nguyễn Thị C. Diện tích đất lúc giao chia là đất ruộng và mục đích sử dụng đất được giao chia là trồng lúa, hàng năm ai sử dụng thì người đó đóng sản phẩm đầy đủ, cụ thể là bao nhiêu tiền thì các bà không biết.

* Đại diện Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Ninh Bình trình bày:

Năm 1999, hộ cụ Nguyễn Thị C được cấp giấy chứng nhận diện tích 2422m² đất ruộng tại các xứ đồng: Ruộng lão: 252m²; làn dưới: 533m²; làn dưới: 180m²; khu suối: 608m², khu suối: 180m², cửa đình: 97m²; kẻng mẫu giáo: 79m²; ZBút Phong: 493m².

Năm 2001, hộ cụ Nguyễn Thị C được cấp giấy chứng nhận diện tích đất 3149m² tại các xứ đồng: Làn dưới: 965m²; Đồng lính: 515m²; Đồng lính: 277m²; Đồng quan trên: 1105m²; Mạ cửa đình: 287m².

Năm 2019, hộ cụ Nguyễn Thị C được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172181, ngày 25/6/2019: Thửa 94, diện tích đất 1080 m², tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất: Gốc Sung, Tổ dân phố D;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172182, ngày 25/6/2019: Thửa 115, diện tích đất 387m², địa chỉ thửa đất Đ, Tổ dân phố D;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172183, ngày 25/6/2019: Thửa 107, diện tích đất 1394m², từ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất Đ, Tổ dân phố D;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172184, ngày 25/6/2019: Thửa 454, diện tích đất 211m², địa chỉ thửa đất Lải Màu, Tổ dân phố D.

Theo kết quả rà soát tổng số khẩu được giao chia đất nông nghiệp hộ gia đình cụ C gồm có các thành viên là: Cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thúy V, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L. Các thành viên đều được cấp chung quyền sử dụng đất nông nghiệp với hộ Cụ Nguyễn Thị C nên không xác định được mỗi thành viên ruộng ở vị trí ruộng nào.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn H2 trình bày: Ngày 16/12/2021, ông và cụ C, bà D, bà L có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông 360m² đất, thửa 107, tờ 1 tại Đ, địa chỉ: Tổ dân phố D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam. Khi chuyển nhượng, hai bên có ký hợp đồng và có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã L. Khi giao nhận đất, hai bên có xuống thực địa để giao đất có cạnh giáp đất nhà ông Nhân C3 và cạnh còn lại giáp đất hộ cụ C. Sau khi giao nhận đất, gia đình ông sử dụng bình thường, hiện nay diện tích đất nông nghiệp này ông để trống. Do bà D chưa đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông để làm thủ tục sang tên nên đến nay vẫn chưa sang tên ông được. Nay xảy ra tranh chấp, do công việc của ông bận nên ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Từ nội dung vụ án như trên, Bản án sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 16-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; điều 157; Điều 165; 166; Điều 228, Điều 271; Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 158; Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 166 Bộ luật Dân sự; các Điều 3, 4, 5, 7, 8, 166, 170, 179, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thúy V.

2. Buộc bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của cụ C là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị L trả cho bà Nguyễn Thị N 1,1 sào đất nông nghiệp và trả cho chị Nguyễn Thúy V 1,1 sào đất nông nghiệp. Tổng là 2,2 sào đất nông nghiệp tại thửa 107, tờ bản đồ số 1 địa chỉ: Đ, Tổ dân phố D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (Nay là phường L, tỉnh Ninh Bình), thời hạn sử dụng 31/12/2063 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ Cụ Nguyễn Thị C. Bà D phải thu hồi các tài sản trên diện tích đất 792m² (Có sơ đồ, kích thước thửa đất kèm theo).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 27/9/2025, bà Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại bản tự khai ngày 08/12/2025, bà Nguyễn Thị D xác định kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Tuyên bố toàn bộ diện tích đất ruộng là của gia đình bà, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Thị C (nay cụ C đã chết và có giấy ủy quyền lại quyền sử dụng, canh tác cho bà Nguyễn Thị D với lý do trước khi chia lại ruộng đất nông nghiệp, UBND xã đều phát loa truyền thanh tất cả các trường hợp có thắc mắc về ruộng đất và đã được UBND xã giải quyết ổn thỏa, không có thắc mắc gì nên Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thúy V giữ nguyên nội dung khởi kiện; bà Nguyễn Thị D giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Ninh Bình.

Án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị D được làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật tố tụng Dân sự nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện UBND phường L, ông H2, bà H, bà N1, bà N, chị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thúy V yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D trả lại diện tích đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn mỗi người 1,1 sào, hiện đã được cấp chung trong 04 thửa đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị C, nên cần xác định cụ thể quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiẹp” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:

Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Y đều xác nhận thời điểm Nhà nước thực hiện việc giao đất ruộng (đất 115) cho các thành viên trong hộ cụ Nguyễn Thị C thì các bà đã đi lấy chồng nên không được giao chia ruộng; Theo cung cấp của chính quyền địa phương thì bà H, bà Y không phải nhân khẩu thuộc tiêu chuẩn được giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình cụ C. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm xác định bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Y tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1] Về nguồn gốc diện tích đất ruộng đang tranh chấp:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Năm 1993, hộ cụ Nguyễn Thị C có 07 nhân khẩu đủ tiêu chuẩn được giao chia đất nông nghiệp (đất 115) gồm: Cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thúy V (là con gái bà N), bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L, theo tiêu chuẩn mỗi người được 1,1 sào; tại thời điểm giao chia đất, do cụ T (là chồng cụ C) đã chết, bà H, bà Y đi lấy chồng nên không được giao chia ruộng.

Đến năm 1999, diện tích đất nông nghiệp được giao chia đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị C tại các xứ đồng, tổng diện tích là 2422m² đất, cụ thể: Ruộng lão: 252m², Làn dưới: 533m², Làn dưới: 180m²; Khu suối: 608m², Khu suối: 180m², Cửa đình: 97m², Kẻng mẫu giáo: 79m², Bút Phong: 493m². Năm 2001 được cấp giấy chứng nhận diện tích đất 3149m² tại các xứ đồng: Làn dưới: 965m², Đồng lính: 515m², Đồng lính: 277m², Đồng quan trên: 1105m², Mạ cửa đình: 287m².

Do chính sách dồn điền đổi thửa nên năm 2019, hộ bà Nguyễn Thị C được cấp 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172181, ngày 25/6/2019. Thửa 94, diện tích đất 1080 m², tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất: Gốc Sung, thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172182, ngày 25/6/2019. Thửa 115, diện tích đất 387m², địa chỉ thửa đất Đ, thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172183, ngày 25/6/2019. Thửa 454, diện tích đất 211m², từ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất Đồng Quan D thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam;
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172184, ngày 25/6/2019. Thửa 107, diện tích đất 1394m², địa chỉ thửa đất Đồng Quan Dưới thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam.

Do các thành viên trong hộ được giao chia đất nông nghiệp được cấp chung quyền sử dụng đất nông nghiệp với hộ bà Nguyễn Thị C nên không xác định được mỗi thành viên được chia ruộng ở vị trí nào để xác định. Tổng diện tích đất hộ bà Nguyễn Thị C được cấp theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.072m², có sự chênh lệch 300m² theo tiêu chuẩn đề án (1,1 sào x 7 = 2.772m²) là trong quá trình dồn đổi ruộng đất qua các thời kỳ các hộ có sự điều chuyển ruộng cho nhau nhưng hiện tại không có hồ sơ lưu việc chuyển ruộng cho nhau. Từ khi cấp giấy chứng nhận không ai khiếu nại thắc mắc gì, giấy chứng nhận không bị cầm cố thế chấp gì. Diện tích đất nông nghiệp đứng tên hộ cụ Nguyễn Thị C do cụ C và bà D sử dụng; sau khi bà C chết ngày 04/5/2024 thì hiện tại do bà Nguyễn Thị D sử dụng.

Ngày 16/12/2021, cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L cùng chuyển nhượng cho ông Hoàng Văn H2 diện tích 360m² với số tiền 20.000.000 đồng theo hợp đồng số 04 quyển số 01-SCT/HĐ,GD đã được chứng thực tại xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam. Tại thời điểm giao kết hợp đồng xác định diện tích 360m² là tiêu chuẩn của các thành viên có tên trên hợp đồng chuyển nhượng gồm cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L; các đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Hiện bà D đang sử dụng diện tích đất còn lại tại các thửa đất được cấp mang tên hộ cụ C.

Như vậy, có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thúy V có tiêu chuẩn đất ruộng, với diện tích được giao là 1,1 sào/người x 02 người = 792m².

[2.2] Xét thấy việc bà Nguyễn Thị D kháng cáo “Đề nghị tuyên bố toàn bộ diện tích đất ruộng là của bà cụ Nguyễn Thị C vì đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Thị C” là không đúng theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT19/5/2014 của Bộ T1 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bởi lẽ trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thể hiện cấp cho “Hộ bà Nguyễn Thị C”.

Ngoài ra, như nhận định tại mục [2.1] thì bà Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thúy V đều được Nhà nước giao tiêu chuẩn đất ruộng theo Quyết định số 115/QĐ-UB ngày 15/02/1992 của UBND tỉnh H. Từ khi được giao đến thời điểm hộ cụ Nguyễn Thị C được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N và chị V không thuộc trường hợp phải giao lại đất theo quy định tại khoản 7 Điều 170 Luật Đất đai năm 2014 cũng như không có việc chuyển nhượng, tặng cho tiêu chuẩn đất nông nghiệp theo quy định khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013Vì vậy, không có căn cứ xác định bà N, chị V từ bỏ quyền sử dụng đối với diện tích đất ruộng tiêu chuẩn được cấp giao trong diện tích đất nông nghiệp cấp chung cho hộ cụ Nguyễn Thị C. Do vậy kháng cáo của bà Nguyễn Thị D không có căn cứ được chấp nhận.

Tuy nhiên Hội đồng xét thấy do diện tích đất được cấp chung trong hộ, không phân định ranh giới vị trí cho từng khẩu nên để đảm bảo quyền lợi chung cho các thành viên trong hộ, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại chia cho bà N và chị V được quyền quản lý, sử dụng 387m² tại thửa đất số 115 ở Đ, thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình) và 405m² tại thửa 107, ở Đồng Quan D thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình).

[3] Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

[1.3.2] Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR172183 ngày 25/6/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị C đối với thửa đất số 107, tờ bản đồ số 1; địa chỉ: Đ, thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam không phải là cấp GCNQSD lần đầu, chỉ là thủ tục đăng ký biến động. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đưa Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có căn cứ theo hướng dẫn tại điểm 2, mục II Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc “Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính”.

2. Sửa Bản án sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 16-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình về phần án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm;

; giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 16-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, cụ thể:

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn là cụ Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Do thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ C là người cao tuổi nên được miễn án phí sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật còn bà D phải chịu toàn bộ án án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị D phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự là không đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Từ các nhận định trên xét thấy kháng cáo của bà Nguyễn Thị D không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do những sai sót của cấp sơ thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định nêu trên.

việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và chị V, buộc phía bị đơn phải trả cho bà N, chị V diện tích đất nông nghiệp 2,2 sào (1,1 sào/người) = 792m² tại thửa đất số 107 tờ bản đồ số 1 có vị trí tại cánh Đ; buộc bà D phải thu hồi toàn bộ các tài sản đang canh tác trên diện tích đất nêu trên để trả lại diện tích 792m² cho bà N và chị V là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật và hiện trạng thực tế sử dụng.

[2.3] Do diện tích đất được cấp chung cho hộ, không phân định ranh giới vị trí cho từng khẩu nên việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và chị V, buộc phía bị đơn phải trả cho bà N, chị V diện tích đất nông nghiệp 2,2 sào (1,1 sào/người) = 792m² tại thửa đất số 107 tờ bản đồ số 1 có vị trí tại cánh Đ; buộc bà D phải thu hồi toàn bộ các tài sản đang canh tác trên diện tích đất nêu trên để trả lại diện tích 792m² cho bà N và chị V là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật và hiện trạng thực tế sử dụng.

có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 147; điều 157; Điều 165; 166; Điều 228, Điều 271; Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 158; Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 166 Bộ luật Dân sự; các Điều 3, 4, 5, 7, 8, 166, 170, 179, 203 Luật Đất đai năm 2013:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thúy V; Buộc bà Nguyễn Thị D và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của cụ C là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị L trả cho bà Nguyễn Thị N 1,1 sào đất nông nghiệp và trả cho chị Nguyễn Thúy V 1,1 sào đất nông nghiệp, tổng là 2,2 sào = 792m² đất nông nghiệp. Cụ thể buộc bà D và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ C trả lại cho bà N, chị V 387m² tại thửa đất số 115 ở Đ, thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình) và 405m² tại thửa 107, ở Đồng Quan D thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn D, phường L, tỉnh Ninh Bình, thời hạn sử dụng 31/12/2063 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị C. Bà D phải thu hồi các tài sản trên diện tích đất 792m² (Có sơ đồ, kích thước thửa đất kèm theo).

Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị D không phải chịu. Trả lại cho bà D 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà D đã nộp đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001227 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TAND khu vực 5 - Ninh Bình;
  • - THADS khu vực 5 - Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn San

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Nguyễn Xuân Sơn

Đinh Huy Lưỡng

Trần Văn San

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp

  • Số bản án: 105/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V/v: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger