Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 104/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 01- 2026
V/v Tranh chấp hợp vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung

Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Kim Châu, Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả, tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 870/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 171/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 842/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1962; Địa chỉ: số F, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh G, sinh năm: 1978; Địa chỉ: G, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 23/5/2025).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Số C, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh năm: 1978; Địa chỉ: F, khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 15/4/2025).
  • - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thanh G trình bày: Bà H và bà Nguyễn Thị M là chị em cô cậu nên khi bà M hỏi mượn tiền bà H để mở phòng mạch, bà H có cho bà M mượn nhiều lần cụ thể như sau:

Ngày 24/3/2019, bà H có cho bà M mượn số tiền là 150.000.000 đồng bà M có viết biên nhận mượn tiền, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1%. Khi nào cần tiền báo trước cho bà M trước 1 tháng để bà M lo tiền trả bà H.

Ngày 11/01/2021, bà H có cho bà M mượn số tiền là 150.000.000 đồng bà M có viết biên nhận mượn tiền, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1%. Khi nào cần tiền báo trước cho bà M trước 1 tháng để bà M lo tiền trả bà H.

Ngày 07/3/2021, bà H có cho bà M mượn số tiền là 30.000.000 đồng do tin tưởng nên không viết biên nhận, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1%.

Ngày 01/01/2023 bà H có cho bà M mượn số tiền là 188.350.000 đồng do tin tưởng nên không viết biên nhận, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1%.

Ngày 07/4/2023, bà H có cho bà M mượn số tiền là 30.000.000 đồng do tin tưởng nên không viết biên nhận, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất là 1%.

Khi vay bà M có giao một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 435, tờ bản đồ 6, diện tích 578,2m², đất tại xã T cho bà H để bảo đảm cho việc trả nợ sau này. Tổng số tiền bà M còn nợ bà H là 548.350.000 đồng.

Nay, bà H yêu cầu bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho bà H số tiền là 548.350.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền trên cho đến khi xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo quy định pháp luật là 0,83%/ tháng.

Ngày 12/9/2025 ông Trần Thanh G đại diện của bà Nguyễn Thị H rút yêu cầu khởi kiện khoản vay ngày 07/3/2021, số tiền là 30.000.000 đồng; Ngày 01/01/2023 số tiền là 188.350.000; Ngày 07/4/2023 số tiền là 30.000.000 đồng. Bà H yêu cầu bà M trả số tiền 150.000.000 đồng từ ngày 24/3/2019 và 150.000.000 đồng từ 10/01/2021. Tổng cộng bà H yêu cầu bà M trả số tiền 300.000.000 đồng và lãi từ ngày vay cho đến khi vụ án được xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 0,83%.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Thị P trình bày:

Bà M có nợ của bà H số tiền vay 150.000.000 triệu đồng vay vào ngày 24/3/2019. Vay không có thời hạn, lãi suất vay thoả thuận là 1,2%/tháng. Sau khi vay bà M đóng lãi đủ hàng tháng cho bà H. Thời gian đó do bà M đi học ở xa nên hàng tháng có nhờ người bạn là Trần Thủy T trả tiền lãi bằng tiền mặt hàng tháng cho bà H. Đến năm 2021, bà H nói với bà M đã làm thất lạc giấy nợ, bà H kêu bà M viết lại giấy nợ, vì tin tưởng bà H, nên bà M đã viết lại giấy nợ ngày 11/01/2021 cho bà H. Thực chất bà M chỉ nợ bà H số tiền 150.000.000 đồng, bà M đã trả cho bà H như sau:

  • Lần 1: Vào ngày 20/1/2023 âm lịch là 22.800.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 08/02/2022, bà M trả được cho bà H 35.000.000 đồng.
  • Lần 3: Trong năm 2024, bà M đã trả được cho bà H 45.000.000 đồng. Hiện nay bà M còn nợ bà H số tiền 150.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 171/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H. Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền nợ vay 447.720.000đ. Đình chỉ yêu cầu giải quyết đối khoản vay ngày 07/3/2021, 01/01/2023 và 07/4/2023. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 09/10/2025 bà Nguyễn Thị M kháng cáo chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền 150.000.000 đồng tiền vốn vay và tiền lãi từ tháng 02/2025 đến ngày Tòa án xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án theo Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M: Bà M khai chỉ có vay của bà H 150.000.000 đồng ngày 24/3/2019. Tuy nhiên, bà H cung cấp chứng cứ là tờ biên nhận vay nợ ngày 24/3/2019 số tiền 150.000.000 đồng và tờ biên nhận ngày 11/01/2021 số tiền 150.000.000 đồng. Qua xem xét, giấy mượn tiền ngày 11/01/2021 không phải viết lại của giấy mượn tiền năm 2019. Bà M là người có trình độ văn hóa, biên nhận do chính tay bà viết nhưng biên nhận viết lại không có nội dung ghi năm 2019 vay do mất biên nhận. Từ đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M xin trả 150.000.000 đồng tiền vốn gốc.

[3] Về việc trả nợ: Bà M không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh đã trả cho bà H được 102.800.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm trừ tiền lãi bà H đã nhận 21.600.000 đồng buộc bà M trả số lãi còn thiếu là có căn cứ.

[4] Ý kiến của kiểm sát viên là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà M không được chấp nhận nên bà phải chịu án phí phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M;
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 171/2025/DSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long.

Tuyên xử: Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ H số tiền nợ vay 447.720.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng). Trong đó vốn gốc 300.000.000 đồng và lãi 147.720.000 đồng.

Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Phòng THDS khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thành Trung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 104/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M; - Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 171/2025/DSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger