Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/DS-PT

Ngày: 22 -12 2025

V/v Tranh chấp đất đai theo quy

định của pháp luật về đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Thành Công

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồng Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:

bà Lại Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định này là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 113/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Lê Thị Đ sinh năm: 1955; địa chỉ: thôn S, xã G, tỉnh Ninh Bình.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: chị Phùng Thị H sinh năm: 1974; địa chỉ: đội G, thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương nay là xã T, thành phố Hải Phòng (văn bản ủy quyền ngày 11/7/2024).

  3. Bị đơn: anh Bùi Trung K sinh năm 1975, chị Vũ Thị Thùy L sinh năm 1981; địa chỉ: thôn S, xã G, tỉnh Ninh Bình.
  4. Người kháng cáo: bà Lê Thị Đ là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Đ và chị Phùng Thị H người đại diện theo ủy quyền của bà Đ trình bày:

Khoảng năm 1981 mẹ chồng bà Đ là bà Nguyễn Thị Lê đi Miền N lập nghiệp nên đã bán cho bà Bùi Thị D là mẹ anh Bùi Trung K một căn nhà 6 gian được xây trên nền đất cũ, bốn xung quanh được xây tường bao bằng gạch. Căn nhà còn lại ở phía Đông, bà L1 để lại cho vợ chồng bà Đ (ông Phùng Hữu X). Ngôi nhà của bà Đ là nhà mái ngói liền kề sát tường với đất nhà anh K và có làm một máng bằng inox giáp tường với nhà anh K để hứng giọt ranh của mái ngói. Đến đầu năm 2007 bà Đ phá nhà cũ xây lại ngôi nhà mới, do lấy hướng phong thủy về hướng N - Đông nên bà Đ đã để dư ra một phần đất chiều ngang khoảng 10 cm chạy dài hết đất 17m. Từ năm 2007 đến đầu năm 2023 nhà bà Đ và nhà anh K không có tranh chấp đất đai gì và các hộ xung quanh cũng không có ai tranh chấp với nhà bà. Trong thời gian xây nhà, bà Đ có đổ thêm một khối xà phụ, phần trên có nối với xà dầm tầng 1 đua ra ngoài phía đất bà Đ đã để thừa ra giáp với nhà anh K (dài khoảng 7m, chiều rộng khoảng 30cm, chiều đua ra ngoài mép tường khoảng 10cm, treo lơ lửng giữa tường nhà bà). Tổng diện tích đất dư thừa của nhà bà Đ lưu không giáp đất nhà anh K khoảng 1m².

Đầu năm 2023 anh K phá nhà cũ xây lại nhà mới và có sang nói với bà Đ: anh K xây lại nhà mới phải có cấp phép xây dựng và người xây nhà sau phải đóng móng nông hơn người xây trước, tường xây bây giờ phải cách tường nhà xây của người xây trước từ 5cm đến 7cm. Trong thời gian anh K xây nhà không may có hỏng gì tới nhà bà thì anh K sẽ sửa lại cho bà, nhưng khi xây xong thì nhà anh K không để lại đất như đã nói. Nhà anh K còn lấn chiếm hết đất nhà bà để dư thừa ra chiều ngang là 10cm chạy dài đến giữa nhà khoảng 7m, còn tiếp từ giữa đất là khoảng 5cm, đến hết đất là 3 cm; tổng diện tích đất là 1m². Khi anh K đào móng thì giữa bà Đ với anh K có tranh chấp ngõ đi chung (khu vực ở phía Tây nhà anh K), anh K có nói “đất nhà cháu đến đâu cháu xây đến đó” còn phía giáp ranh giữa nhà bà Đ và anh K chưa có tranh chấp gì về ranh giới quyền sử dụng đất. Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh K, chị L phải tháo rỡ công trình đã xây dựng lấn chiếm sang đất của nhà bà Đ tổng là 1m² và trả lại nguyên trạng đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Trung K và chị Vũ Thị Thùy L trình bày:

Năm 1981 bố mẹ anh K có mua mảnh đất của bà Nguyễn Thị L1 (bà T), trên đất có một căn nhà 03 gian nửa mái ngói, nửa mái bằng, sau này anh có sửa lại đổ mái bằng và ở ổn định đến năm 2023. Trước đó, năm 2005 mẹ anh đã sang tên thửa đất mua của bà L1 cho vợ chồng anh. Ngày 30/12/2005 Ủy ban nhân dân huyện G đã cấp GCNQSDĐ cho anh và chị L được quyền sử dụng 122m² đất ở tại thửa đất số 438 tờ bản đồ số 11. Đầu năm 2023 gia đình anh có xin Ủy ban nhân dân huyện G cấp phép xây dựng để xây lại nhà trên diện tích đất của gia đình (122m²), đến cuối năm 2023 hoàn thiện và đi vào sử dụng. Gia đình bà Đ có làm đơn khởi kiện cho rằng nhà anh xây lấn sang phần diện tích đất giáp ranh nhà bà Đ. Gia đình anh xây dựng lại ngôi nhà trên mảnh đất theo đúng hiện trạng đang sử dụng không có lấn chiếm của ai và đủ bằng chứng chứng minh phần đất của gia đình anh đang sử dụng đúng theo như hồ sơ mua bán đất năm 1981. Khi anh xây dựng bà Đ không có tranh chấp gì về giáp gianh giữa hai nhà và bà Đ chỉ có ý kiến về ngõ đi chung giáp đất phía Tây nhà anh. Gia đình không chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của bà Đ.

Ủy ban nhân dân thị trấn G cung cấp: diện tích đất của vợ chồng anh K, chị L đang sử dụng là nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L1 (mẹ chồng bà Đ) chuyển nhượng cho bà D (mẹ anh K). Năm 2023 Ủy ban nhân dân huyện G đã cấp cho hộ gia đình anh K giấy phép xây dựng trên diện tích thửa đất gia đình anh K đang sinh sống như hiện nay. Từ khi gia đình anh K xây dựng đất đến khi hoàn thành xong công trình, giữa nhà bà Đ và nhà anh K không có tranh chấp gì về giáp ranh giữa hai nhà. Về phần diện tích đất tăng thêm của đất anh K, chị L và bà Đ chủ yếu là do sai số khi đo đạc, vì trước đây thiết bị còn thô sơ nên việc tính diện tích có sự sai lệch so với hiện nay.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: đo đạc hiện trạng thửa đất của anh K, chị L có diện tích 131,0m² (cả đất tranh chấp). Hiện trạng thửa đất của bà Đ 69,0m². Công trình trên đất: gia đình anh K gồm 01 căn nhà vuông 03 tầng mái bằng xây dựng năm 2023. Công trình xây dựng trên đất của bà Đ là nhà 3 tầng, mái T1 xây dựng năm 2007.

Hội đồng định giá tài sản ngày 18/02/2025, xác định thửa đất số 438, 439 tờ bản đồ số 11 tại tổ dân phố S, thị trấn G, huyện G có giá trị 12.000.000 đồng/m². Tổng diện tích đất tranh chấp là 1,31m² có giá trị: 15.720.000 đồng.

Tài liệu có liên quan đến diện tích đất tranh chấp:

- GCNQSDĐ số AM 315276 ngày 30/11/2007 UBND huyện G cấp cho chủ sử dụng đất bà Lê Thị Đ được quyền sử dụng 60m² đất ở tại thửa đất số 439 tờ bản đồ số 11.

- GCNQSDĐ số AÐ 194129 ngày 30/12/2005 UBND huyện G cấp cho chủ sử dụng đất ông Bùi Trung K, bà Vũ Thị Thùy L được quyền sử dụng 122m² đất ở tại thửa đất số 438 tờ bản đồ số 11.

Tại Bản án sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định này là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình quyết định:

  1. Căn cứ vào các Điều 175 và 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
  2. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ;

    Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa nhà bà Lê Thị Đ với nhà anh Bùi Trung K chị Vũ Thị Thùy L là mặt ngoài bức tường xây của nhà bà Đ giáp với bức tường xây của nhà anh K chị L.

  3. Về chi phí tố tụng: anh K phải thanh toán cho bà Đ 2.500.000 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí toà án, miễn án phí cho bà Lê Thị Đ.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025 bà Lê Thị Đ kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Lý do không đồng ý với việc Tòa án bác đơn khởi kiện của bà Đ. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc vợ chồng anh K, chị L phải trả lại 1,31m² đất đã lấn chiếm. Đề nghị xem xét lại về chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản và án phí dân sự sơ thẩm trong bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Chị Phùng Thị H là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, giữ nguyên đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xem xét lại phần chi phí tố tụng khác, án phí sơ thẩm của vụ án.

Anh Bùi Trung K, chị Vũ Thị Thùy L là bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngoài ra anh Bùi Trung K còn trình bày: anh K đồng ý và tự nguyện thanh toán cho bà Lê Thị Đ 2.500.000 đồng tiền chi phí tố tụng khác như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định này là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.

- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Lê Thị Đ đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của người kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì vậy, vụ án được xét xử lại theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Về tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất:

Trên cơ sở lời khai của các đương sự, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện G đã cấp cho bà Lê Thị Đ và cấp cho vợ chồng anh Bùi Trung K, chị Vũ Thị Thùy L đủ căn cứ xác định: bà Lê Thị Đ được quyền sử dụng hợp pháp 60m² đất ở tại thửa đất số 439 tờ bản đồ số 11; vợ chồng anh Bùi Trung K, chị Vũ Thị Thùy L được quyền sử dụng hợp pháp 122m² đất ở tại thửa đất số 438 tờ bản đồ số 11. Hiện tại giữa bà Đ và vợ chồng anh K có tranh chấp về ranh giới, mốc giới của hai thửa đất nêu trên.

Xét về nguồn gốc của hai thửa đất, trước đây là thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Lê . Trong “Giấy nhượng tài sản” ngày 04/10/1981 bà Lê N1 lại 6 gian nhà và một phần diện tích đất cho bà Doãn Thị D1 là mẹ đẻ anh K; phần diện tích đất còn lại cho ông Phùng Hữu X là chồng bà Đ (không có biên bản giao nhận mốc giới diện tích đất nhượng, cho trên thực địa). Nội dung giấy nhượng tài sản của bà L1 không nêu cụ thể diện tích, kích thước phần đất bà Lê N1 lại cho bà D1 và cho chồng bà Đ cụ thể như thế nào. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đ và cấp cho vợ chồng anh K chỉ ghi diện tích đất, không có sơ đồ kèm theo nên không có cơ sở để xác định được kích thước thửa đất của hai gia đình cụ thể như thế nào.

Về mốc giới trên thực địa, các đương sự đều thừa nhận trước khi xảy ra tranh chấp ranh giới, mốc giới đất của hai gia đình là tường nhà của bà Đ và tường nhà của vợ chồng anh K nhưng các bên đã phá dỡ và xây nhà mới giáp nhau nên hiện nay mốc giới cũ không còn nữa.

Bà Đ khai và cung cấp ảnh thể hiện khi xây nhà, bà Đ có đổ một khối xà phụ đua ra ngoài phía đất bà Đ đã để thừa ra giáp với nhà anh K dài khoảng 7m, chiều rộng khoảng 30cm, chiều đua ra ngoài mép tường khoảng 10cm, treo lơ lửng giữa tường nhà bà. Tuy nhiên, trước khi gia đình anh K xây nhà bà Đ đã thuê người cắt bỏ phần xà phụ lồi ra bên ngoài tường phía giáp đất nhà anh K. Việc bà Đ xây nhà có để phần xà phụ lồi ra giáp nhà anh K và sau đó đã tự phá bỏ không chứng minh được mốc giới đất của hai gia đình.

Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên, không đủ căn cứ để xác định ranh giới, mốc giới hợp pháp đất của các bên.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện, thửa đất của bà Đ và thửa đất của vợ chồng anh K đang sử dụng mỗi bên đều tăng 9m² so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Đ là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Đ. Hiện tại bà Đ đang sử dụng diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó có thể xác định quyền, lợi ích hợp pháp của bà Đ đối với thửa đất số 439 không bị xâm phạm nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ.

[2.2] Về khoản tiền chi phí tố tụng khác: Tòa án cấp sơ thẩm đã chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.000.000 đồng, có hóa đơn chứng từ kèm theo và bà Đ đã ký xác nhận. Yêu cầu khởi kiện của bà Đ không được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Đ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nhưng bản án sơ thẩm lại buộc anh K phải thanh toán cho bà Đ 2.500.000 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Quyết định nêu trên có lợi cho bà Đ, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của anh K nhưng anh K không kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh K đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đây là sự tự nguyện của anh K và không gây thiệt hại cho bà Đ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của anh K và không sửa bản án sơ thẩm đối với phần này.

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu khởi kiện của bà Đ không được Tòa án chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Đ phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên bà Đ là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã miễn án phí cho bà Đ là có căn cứ.

[2.4] Trong quá trình giải quyết phúc thẩm, bà Lê Thị Đ không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh kháng cáo của mình là có căn cứ, hợp pháp. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bà Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

[3] Về án phí phúc thẩm: miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị Đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

  1. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định này là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
  2. Về án phí phúc thẩm: miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị Đ.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/12/2025).

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự)

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Hải - Nguyễn Thành CôngNguyễn Tử Lượng

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - TAND huyện Gia Viễn;
  • - CCTHADS huyện Gia Viễn;
  • - Phòng KTNV-THA;
  • - Lưu hồ sơ, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tử Lượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/DS-PT ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai

  • Số bản án: 104/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp mốc giới đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger