|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI Bản án số: 103/2025/HS-ST Ngày: 29/12/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cư A Cớ và bà Lê Giang Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2025/TLST- HS ngày 20/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mã Văn T (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 01 năm 1984, tại xã T, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mã Văn P và bà Hoàng Thị S; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con;Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 50/QĐ-TA ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đối với Mã Văn T, thời gian cai nghiện 12 tháng. Ngày 31/3/2024, Trên chấp hành xong thời gian cai nghiện.
Về nhân thân: Tại Bản án hình sự số 28/2019/HS-ST ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Mã Văn T 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản“,
Bị bắt tạm giam từ ngày 13/9/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/9/2025, Công an xã T, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra chất ma tuý đối với Mã Văn T (sinh ngày 11/01/1984, trú tại thôn N, xã T, tỉnh Lào Cai) là đối tượng trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, theo Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 01/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã T), tỉnh Lào Cai, thời hạn từ ngày 01/4/2024 đến ngày 01/4/2026. Kết quả, trong mẫu nước tiểu của Mã Văn T dương tính với M, H. Công an xã T đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Phòng PC04 Công an tỉnh L để giải quyết theo thẩm quyền
Ngày 09/9/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L Quyết định trưng cầu giám định số B77, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Mã Văn T.
Tại Kết luận giám định số 1874/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Phòng K Công an tỉnh P, kết luận:
Trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu giữ của Mã Văn T, sinh năm: 1984, trú tại thôn N, xã T, tỉnh Lào Cai gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine; Codeine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.
Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Codeine: Số thứ tự 06, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ.
Mẫu nước tiểu gửi đến giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định
Quá trình điều tra Mã Văn T khai nhận: Ngày 07/9/2025, Mã Văn T đi đến xã D, huyện V (cũ) mua 01 gói ma túy loại Heroine được gói trong giấy bạc, không xác định được khối lượng với giá 50.000 đồng của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy, trên đường về nhà, Trên dừng lại ở đoạn đường vắng trên đường Q, lấy ma túy vừa mua được ra sử dụng hết bằng hình thức đốt ma túy trên giấy bạc rồi hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, T vứt giấy bạc tại chỗ sử dụng, còn bật lửa thì cầm về. Đến nay Trên không xác định được vị trí chính xác nơi đã sử dụng ma túy và không nhớ đã để bật lửa ở đâu
Cáo trạng số 42/CT - VKS ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã truy tố bị cáo Mã Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự;
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mã Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mã Văn T với mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Mã Văn T: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội ngày 07/9/2025, Mã Văn T đi đến xã D, huyện V (cũ) mua 01 gói ma túy loại Heroine được gói trong giấy bạc, không xác định được khối lượng với giá 50.000 đồng của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy, trên đường về nhà, Trên dừng lại ở đoạn đường vắng trên đường Q, lấy ma túy vừa mua được ra sử dụng hết bằng hình thức đốt ma túy trên giấy bạc rồi hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, T vứt giấy bạc tại chỗ sử dụng, còn bật lửa thì cầm về. Đến nay Trên không xác định được vị trí chính xác nơi đã sử dụng ma túy và không nhớ đã để bật lửa ở đâu. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Mã Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Mã Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội, pháp luật. Bản thân bị cáo hiện đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày 01/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã T) tỉnh Lào Cai. Ngày 07/9/2025, bị cáo Mã Văn T
3
đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức hít. Đến ngày 09/9/2025, bị cáo bị Công an xã T, tỉnh Lào Cai kiểm tra, phát hiện dương tính với chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Vì vậy, phải xử lý nghiêm khắc bị cáo trước pháp luật để cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Mã Văn T là người thường xuyên sử dụng chất ma tuý, có 01 tiền sự. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 50/QĐ-TA ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng thời gian cai nghiện 12 tháng. Ngày 31/3/2024 bị cáo chấp hành xong thời gian cai nghiện, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục và và răn đe phòng ngừa chung.
Đối với người đàn ông mà bị cáo Mã Văn T khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 07/9/2025 tại khu vực xã D, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra nhưng không xác định được thông tin, địa chỉ cụ thể của người này nên không có đủ căn cứ để xử lý trước pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mã Văn T không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có ông nội là Mã Văn A được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
4
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Mã Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/9/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mã Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Hương |
5
Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI về hình sự (sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 103/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mã Văn T
