Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103 /2025/HS-ST

Ngày 25-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Thành

Ông Nguyễn Văn Đời

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo.

Trần Văn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1996; giới tính: Nam; CCCD số 048096003641; nơi thường trú: Tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; con ông Trần Văn S và bà Trương Thị E, gia đình có tám anh chị em, bị cáo là con thứ bảy.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 13-01-2025, Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với người cai nghiện ma túy bắt buộc tại gia đình, cộng đồng thời hạn từ ngày 13-01-2025 đến 28-11-2026 (Quyết định số: 21).

Nhân thân:

- Ngày 10-9-2013, bị Ủy ban nhân dân phường quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trường G trong thời hạn 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng (Quyết định số 1468).

  • Ngày 24-01-2017, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 25).
  • Ngày 20-5-2019, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 57).
  • Ngày 11-6-2021, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà (cũ), áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (Quyết định số 42).
  • Ngày 22-3-2023, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà (cũ), áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 06).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17 tháng 10 năm 2025 (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn S, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn N đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, nhưng vào ngày 05/9/2025 tại nhà số K đường P (tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng) và ngày 13/10/2025, tại khu vực bãi biển Đ (phường S, thành phố Đà Nẵng), Trần Văn N tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ ngày 05/9/2025, Trần Văn N sử dụng tài khoản Facebook tên “Nhang T” đăng nhập vào mạng xã hội Facebook, liên hệ với người có tên tài khoản “Không tên” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì người đó đồng ý. Sau đó, người có tên tài khoản “Không tên” hẹn N đến khu vực trước quán N1 (đường nhựa phía sau Trung tâm hành chính quận S cũ) để lấy ma túy. Khi N đến nơi, người có tên tài khoản “Không tên” hướng dẫn N đến vị trí gói thuốc lá (đã để ma túy trong đó) dưới lòng đường. Sau khi lấy được ma túy, N bỏ lại 300.000 đồng vào bao thuốc lá rồi mang số ma túy đó về nhà và sử dụng một mình hết số ma túy trên. Đến ngày 09/9/2025, Công an phường S tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với N thì cho kết quả dương tính với ma túy.

* Tang vật tạm giữ: (BL: 49, 51-52, 54-55):

  • 01 (một) chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Aquafina, được đậy kín nắp, bên trong chứa mẫu nước tiểu thu của Trần Văn N (đã niêm phong và ký hiệu là C1).
  • 01 (một) que thử test ma túy Chemtrue của đối tượng thử test Trần Văn N, trên que test có hiện một vạch đỏ tại ô thủ MET, các ô còn lại hiện hai vạch đỏ.
  • 01 (một) bình nhựa đựng nước, loại chai có thể tích 430ml có nắp bằng nhựa, có dán nhãn hiệu Đảnh Thạnh, bên trên nắp chai có nỏ bằng thủy tinh và ống hút bằng nhựa được cắm chung vào nắp chai (đã niêm phong và ký hiệu là C2).
  • Tại Kết luận giám định số: 1646/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: Trong mẫu nước tiểu của Trần Văn N gửi giám định kí hiệu C1 tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Methamphetamine (Amphetamine). (BL: 36)
  • Tại Kết luận giám định số: 1647/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: Bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý của Trần Văn N gửi giám định kí hiệu C2 tìm thấy chất ma túy Methamphetamine nồng độ 0,15mg/ml, khối lượng Methamphetamine trong 300mL là 45 mg (0,045 gam); chất tinh thể màu trắng bên trong ống thuỷ tinh là ma tuý Methamphetamine tuy nhiên lượng bám dính rất ít nên không xác định được khối lượng (BL: 37).

Lần thứ hai: Trong quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nguồn tin đối với hành vi nêu trên của Trần Văn N thì khoảng 22 giờ ngày 13/10/2025, trong lúc Trần Văn N đi dạo trên đường H, thành phố Đà Nẵng, khi đến khu vực vỉa hè đường H (đoạn gần ngã 3 H - P, phường S, thành phố Đà Nẵng), N thấy một thanh niên (không rõ lai lịch, không quen biết) đang sử dụng ma tuý đá, N đến xin sử dụng ma tuý thì người này đồng ý rồi đưa dụng cụ sử dụng ma tuý đá cho N, N hút được 01 hơi rồi tiếp tục đi dạo và về nhà. Đến ngày 17/10/2025, khi Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ làm việc với Nhang và tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với N thì cho kết quả dương tính với ma túy. (BL: 45-46, 48, 67-70, 100-109, 112-133).

* Tang vật tạm giữ: (BL: 50, 53, 59-60):

  • 01 (một) chai nhựa trong suốt, nhãn hiệu Aquafina, được đậy kín nắp bên trong chứa mẫu nước tiểu thu của Trần Văn N vào ngày 17/10/2025 (đã niêm phong và ký hiệu là N1).
  • 01 (một) que thử test ma túy Chemtrue của Trần Văn N, trên que test có hiện một vạch đỏ tại ô thử MET, các ô còn lại hiện hai vạch đỏ.
  • Tại Kết luận giám định số: 1194/KL-KTHS ngày 31/10/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu N1 (thu ngày 17/10/2025) của Trần Văn N (BL: 38).

* Về dân sự: không.

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-KV2 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về tang vật, vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi sai trái, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng nêu trên là hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-KV2 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, gồm: biên bản kiểm tra, kết quả test nhanh chất ma túy, các Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian đang bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, bị cáo Trần Văn N đã hai lần sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine, cụ thể vào các ngày 05/9/2025 và 13/10/2025 tại địa bàn phường S, thành phố Đà Nẵng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, trong khi đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Việc sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo mà còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
  4. [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    1. [4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    2. [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo chưa có tiền án, lần đầu bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tiếp tục vi phạm pháp luật. Điều này cho thấy bị cáo khó tự cải tạo ngoài xã hội, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
  6. [6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, cần chấp nhận để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
  7. [7] Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 túi niêm phong có mã số: NS2 24063870; 01 vỏ chai nhựa trong suốt bên ngoài có dán nhãn hiệu Đảnh Thạnh dung tích 430ml; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 02 que thử test ma túy Chemtrue của Trần Văn N, đây là những vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

  8. [8] Về vấn đề khác:

    Đối với ông Trần Văn S (sinh năm: 1960; trú: tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng) là cha ruột của bị cáo và cũng là chủ nhà nơi bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Ông S không biết việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập việc truy cứu trách nhiệm là phù hợp.

    Đối với các đối tượng đã bán trái phép chất ma túy cho N và đối tượng đã cho N sử dụng trái phép chất ma túy, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

  9. [9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17-10-2025.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. T:
    Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong có mã số: NS2 24063870 đựng mẫu hoàn trả có đóng dấu Phòng K, chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên; 01 túi niêm phong đựng mẫu hoàn trả (01 vỏ chai nhựa trong suốt, bên ngoài có dán nhãn hiệu Đảnh Thạnh 430ml; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa) có đóng dấu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên; 02 bì niêm phong đựng que thử test ma túy Chemtrue.
    (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 10/12/2025).
  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    Bị cáo Trần Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • VKSND khu vực 2 - Đà Nẵng;
  • Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • Công an TP. Đà Nẵng;
  • THADS TP. Đà Nẵng;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 103/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Nhang phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Nhang 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17-10-2025. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong có mã số: NS2 24063870 đựng mẫu hoàn trả có đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự, chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên; 01 túi niêm phong đựng mẫu hoàn trả (01 vỏ chai nhựa trong suốt, bên ngoài có dán nhãn hiệu Đảnh Thạnh 430ml; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa) có đóng dấu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên; 02 bì niêm phong đựng que thử test ma túy Chemtrue. (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 10/12/2025).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger