|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1024/2025/DS-PT Ngày: 25/12/2025 V/v tranh chấp đòi tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Ngô Tuyết Băng |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
| Bà Nguyễn Thu Huyền | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Lưu Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên. |
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 790/2025/TLPT-DS ngày 17/11/2025, về việc “ Tranh chấp đòi tài sản”.
Do bản án số 49/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân ( Nay là Tòa án nhân dân khu vực 2), thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 933/2025/QĐ-PT ngày 03/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 978/2025/QĐPT-HPT ngày 18/12/2025 giữa:
* Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1958;
Địa chỉ: P Tòa nhà V, ngõ B T, phường Y, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959 (chết ngày 24/8/2025)
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà M:
Ông Trần Văn C, sinh năm 1958
Anh Trần Văn H, sinh năm 1986
Chị Trần Thị V, sinh năm 1981
Chị Trần Thị Hồng N, sinh năm 1984
Địa chỉ liên hệ: P11.8 Tòa nhà V, ngõ B T, phường Y, thành phố Hà Nội.
( Có mặt ông C, anh H; Vắng mặt chị V, chị N)
* Bị đơn: Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1957
- Bà Phạm Thị Ngọc H1 sinh năm 1957;
Cùng trú tại: số nhà D đường L, phường K, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Ngọc H1: Ông Đinh Văn H2, sinh năm 1964; nơi thường trú: T, phường Y, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tạ Văn Ư, sinh năm 1956
- Anh Tạ Hà G, sinh năm 1985;
Cùng trú tại: số C N, phường H, Hà Nội.
(Vắng mặt).
- Công ty X (nay là Công ty TNHH Một thành viên X1);
Địa chỉ trụ sở: số A H, phường N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến T - Chức danh: Chủ tịch Công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng N1 - Chức danh: Trưởng ban thu hồi công nợ (theo Giấy ủy quyền số 17/UQ - CT ngày 24/02/2025). Ông N1. ( Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, ông Trần Văn C trình bày: Ông C và ông P sinh ra cùng quê và chơi với nhau từ khi học phổ thông, kể từ khi cả hai gia đình chuyển về làm việc và sinh sống tại thành phố Hà Nội thì tình cảm giữa hai gia đình lại càng gần gũi hơn. Ông P có gọi điện cho ông C nói gia đình ông P biết một dự án nha chung cư đang xây và ông P đã mua một căn hộ ở đó, còn căn nhà đang ở số D L sẽ để cho T1 là con trai út của vợ chồng ông P, bà H1 lấy vợ ở đó. Ông P bảo gia đình ông C có mua để khi về hưu ở cùng nhau cho vui thì cầm tiền sang nhà đưa bà H1 mua hộ cho. Ngày 16/8/2010, vợ chồng ông C, bà M cùng nhau cầm tiền đến nhà ông P, bà H1 tại địa chỉ: Số D đường L, phường K, quận T, thành phố Hà Nội để thống nhất việc mua bán. Theo ông P, bà H1 thì dự án nằm trên đường H kéo dài đã làm xong móng, khoảng 3 năm sau thì nhận nhà. Căn hộ có diện tích 100m², có giá là 1,9 tỷ đồng. Vợ chồng ông C, bà M đã đưa 1,3 tỷ đồng cho ông P, bà H1 tại nhà ông P, bà H1. Khi giao tiền có mặt cả 4 người là vợ chồng ông C, bà M và vợ chồng ông P, bà H1. Khi đưa tiền thì không có giấy biên nhận tiền. Tại thời điểm đó ông P, bà H1 cũng không đưa cho vợ chồng ông C, bà M thông báo nộp tiền của Công ty và sau đó cũng không đưa lại biên lai nộp tiền vào Công ty. Ông P, bà H1 hứa sau 10 – 15 ngày sau sẽ sang tên hợp đồng mua nhà cho vợ chồng ông C, bà M và sau 3 năm sẽ được nhận nhà, nếu vợ chồng ông C, bà M không nhận được nhà thì sẽ trả lại tiền. Còn nếu được nhận nhà thì vợ chồng ông C1, bà M sẽ thanh toán nốt cho ông P, bà H1 số tiền 600 triệu đồng còn lại. Khi bà M đưa tiền cho ông P, bà H1 thì bà M không biết có giấy tờ gì, vì ông P, bà H1 nói đã mua 01 căn hộ ở đó. Tuy nhiên, sau 01 tháng thì ông P, bà H1 vẫn chưa chuyển tên hợp đồng cho vợ chồng ông C1, bà M. Vợ chồng ông C, bà M có hỏi
thì họ nói là do bên dự án chậm nên chưa chuyển được. Vợ chồng ông C, bà M vẫn trao đổi thường xuyên và ông P, bà H1 hứa nếu không có nhà sẽ trả lại tiền cho vợ chồng ông C, bà M. Đến tháng 7/2018 thì vợ chồng ông C1, bà M có hẹn vợ chồng ông P, bà H1 gặp mặt nhưng họ tránh mặt. Đến ngày 26/8/2018 thì gặp nhau tại nhà ông P, bà H1 và mọi người tranh luận. Ông P, bà H1 có thừa nhận cầm của vợ chồng ông C1, bà M 1,3 tỷ đồng và trả vợ chồng ông C, bà M bằng bộ hồ sơ thỏa thuận vay vốn là Công ty X với bên vay là ông Tạ Hà G. Vợ chồng ông C, bà M không đồng ý với bộ hồ sơ này vì bộ hồ sơ này không phải tên vợ chồng ông C, bà M và nội dung không đúng như trao đổi. Ông P nói là cứ cầm về xem rồi trao đổi lại. Ngày 02/3/2019, bà M đã mang bộ hồ sơ đó đến gặp ông P, bà H1 và nói hồ sơ này không liên quan đến hợp đồng mua nhà, không liên quan đến thỏa thuận của bà M và ông P, bà H1. Vì vậy, bà M thấy không nhận được nhà nên bà M đề nghị ông P, bà H1 trả lại tiền và ông C1, bà M bàn giao lại cho Tòa án toàn bộ hồ sơ vay vốn bản gốc (Hiện tại ông C1 đã nhận lại toàn bộ hồ sơ bản gốc mà ông C, bà M đã nộp cho Tòa án ngày 29/6/2020).
Đến nay đã 10 năm kể từ ngày vợ chồng ông C, bà M đưa tiền cho ông P, bà H1 nhưng vợ chồng ông C, bà M chưa nhận được nhà, vì vậy ông ông C1, bà M đề nghị Tòa án buộc ông P, bà H1 trả lại cho vợ chồng ông C, bà M 1.300.000.000 đồng để vợ chồng ông C1, bà M trang trải cuộc sống và mua nhà đất ở chỗ khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Văn C rút một phần yêu cầu khởi kiện liên quan đến việc yêu cầu ông P và bà H1 trả số tiền là 300.000.000 đồng. Ông Trần Văn C yêu cầu ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 trả cho ông Trần Văn C1 và bà Nguyễn Thị M số tiền là 1.000.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc H1 trình bày: Năm 2010, xuất phát từ yêu cầu của bà Nguyễn Thị M (Bà Nguyễn Thị M là em họ của chồng tôi) nên tôi (Phạm Thị Ngọc H1) có nhận lời sẽ nhờ ông Tạ Văn Ư (Ông Tạ Văn Ư là bạn học của tôi, thường trú tại số C N, phường Q, quận H, Hà Nội) giúp đỡ vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M mua căn hộ chung cư tại dự án B5 C của Công ty X (nay là công ty TNHH một thành viên X1) với giá ưu đãi là 1,5 tỷ đồng. Thực hiện lời hứa trước đó, tôi đã gặp và đặt vẫn đề với ông Tạ Văn Ư xin mua suất nhà chung cư với giá ưu đãi theo tiêu chuẩn của anh Tạ Hà G (anh Tạ Hà G là con trai ông Tạ Văn Ư; thường trú tại số C N, phường Q, quận H, Hà Nội) thì được ông Tạ Văn Ư đồng ý giúp đỡ. Sau đó một thời gian, ông Tạ Văn Ư đưa cho tôi thông báo nộp tiền của Công ty TNHH một thành viên X1 để tôi đưa cho bà Nguyễn Thị M.
Trên cơ sở thông báo nộp tiền của Công ty TNHH một thành viên X1, năm 2010 bà Nguyễn Thi M1 đã đến nhà tôi và đưa cho tôi 01 tỷ đồng (thực tế tôi không nhận 1,3 tỷ đồng như trong đơn khởi kiện của vợ chồng ông Trần Văn C1 và bà Nguyễn Thị M), tôi chỉ nhận 01 tỷ từ bà Nguyên Thị M2. Khi đến nhà tôi thì có vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M, nhưng khi đưa tiền thì chỉ tôi và bà Nguyễn Thị M lên tầng 2 giao nhân tiền. Tôi bảo để hai chị em cùng đến gặp bác Ư nhưng bà M bảo mình chị đi thôi, con bác đứng tên, sau này chọn căn tốt cho em vì con bác làm ở công ty đó. Tôi làm theo yêu cầu của bả M. Chồng tôi (ông Nguyễn Minh P) không biết việc bà Nguyễn Thà M3 đưa tiền cho tôi. Tôi cầm 01 tỷ đó chuyển cho ông Tạ Văn Ư để nhờ ông Tạ Văn Ư mua suất nhà chung cư với giá ưu đãi theo tiêu chuẩn của anh Tạ Hà G. Sau khi giao tiền cho ông Tạ Văn Ư thì hôm sau ông Tạ Văn Ư đưa lại hợp đồng cho tôi. Tôi điện cho vợ chồng ông Trần Văn C2 và bà Nguyễn Thị M đến lấy bản hợp đồng, bà Nguyễn Thị M cầm đọc rồi đưa cho ông Trần Văn C đọc. Ông Trần Văn C1 đọc và nói lời cảm ơn. Sau đó vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M gửi lại tôi hồ sơ đó và nói để sau lấy nhà
Đối với số tiền 01 tỷ đồng, sau khi nhận chuyển giao từ tôi thì ông Tạ Văn Ư đã đưa cho con trai là anh Tạ Hà G, ngày 31/5/2010, anh Tạ Hà G nộp cho Công ty TNHH một thành viên X1 theo phiếu thu số 118 118 quyển số 5 và đến nay Công ty vẫn xác nhận dư nợ với G là 01 tỷ. Tôi có nói với vợ chồng ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị M là đến khi nào Công ty TNHH một thành viên X1 có nhà thì sẽ trả nhà cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M. Nếu lâu quá không có nhà thì Công ty TNHH một thành viên X1 trả lại số tiền 01 tỷ cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M. Đến tháng 1 năm 2019 bà M yêu cầu cầu tôi và con bà M lên Công ty để chuyển tên cho con bà M nhưng Công ty trả lời phải đưa ra phòng công chứng, con bà M đồng ý, sau đó lại cầm giấy tờ về bảo bận, mấy ngày sau vẫn bảo bận và không ra phòng công chứng để cháu G chuyển tên cho con bà M và hiện nay toàn bộ giấy tờ nộp tiền tại công ty bà Nguyễn Thị M đang giữ.
Trong đơn khởi kiện, vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M khởi kiện ông Nguyễn Minh P tư cách là bị đơn là không có cơ sở. Bởi vì, vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M nhờ tôi (Phạm Thị Ngọc H1) để tôi nói với ông Tạ Văn Ư giúp lấy suất chung cư với giá ưu đãi. Ông Nguyễn Minh P hoàn toàn không được vợ chồng ông Trần Văn C và bả Nguyễn Thị M nhờ giúp đỡ, ông Nguyễn Minh P không tham gia vào việc này và ông Nguyễn Minh P cũng không liên quan đến việc giao nhận tiên 1 tỷ đồng giữa bà Nguyễn Thị M và tôi.
Mặt khác, tôi (Phạm Thị Ngọc H1), ông Tạ Văn Ư và ông Tạ Hà G đều là người đứng ra giúp đỡ vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M mua suất nhà chung cư với giá ưu đãi tại dự án B5 C và công ty TNHH một thành viên X1 là doanh nghiệp đang giữ tiền của vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M. Vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M đều thừa nhận việc này và hiện nay gia đình ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M đang cầm giấy tờ nộp tiền tại công ty, nhưng vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M chỉ khởi kiện vợ chồng tôi và tòa án xác định vợ chồng tôi có trách nhiệm phải trả lại vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M 1 tỷ đồng là chưa thuyết phục chưa đúng với thực tế đã diễn ra. Nội dung đề nghị tòa giải quyết:
- Đề nghị tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện với nội dung xác định ông Nguyễn Minh P là bị đơn trong vụ án.
- Đề nghị tòa án xác định tôi (Phạm Thị Ngọc H1), ông Tạ Văn Ư, ông Tạ Hà G và công ty TNHH một thành viên X1 và bà Nguyễn Thị M đều là các bên liên đới chịu trách nhiệm trong việc hoàn trả 1 tỷ đồng cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M.
- Đề nghị Tòa án buộc Công ty X (nay là công ty TNHH một thành viên X1) trả lại số tiền 01 tỷ đồng cho anh Tạ Hà G để anh G và trả lại cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M.
Bị đơn ông Nguyễn Minh P không có ý kiến nào gửi Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn Ư trình bày: Tôi và cô H1 là người cùng quê, trước học cùng phổ thông với nhau. Sau đó cô H1 lấy anh P, tôi có chơi với cả hai vợ chồng anh P, cô H1. Đầu tháng 5/2010, tôi đi họp lớp, lúc đó có nói chuyện với mọi người trong lớp, trong đó có cô H1, là con trai tôi (Tạ Hà G) làm ở công ty được xuất thỏa thuận cho công ty vay vốn. Nếu dự án thành công thì sau sẽ được lấy căn hộ chung cư và được trừ vào tiền cho công ty vay vốn. Vài hôm sau cô H1 có gặp tôi nói nếu nhà tôi không có nhu cầu thì để lại cho cô H1 xuất đấy và có nhờ tôi là để cháu G đứng tên hộ vì cháu làm ở đó thì được ưu tiên hơn và chọn căn đẹp hơn. Đây là chỗ anh em người nhà cô H1. Khi đó tôi nói nếu người nhà cô thì tôi đồng ý vì nhà tôi cũng không có nhu cầu. Khi đó tôi có dưa cho cô Hà bản thỏa thuận vay vốn mẫu và thông báo số 98 để xem. Tôi cũng nói rõ là cô H1 hãy nghiên cứu kĩ và lên hỏi công ty đấy cụ thể các vấn đề đi. Cô H1 đồng ý và ra về. Mấy hôm sau cô H1 gặp tôi và nói người nhà đồng ý nhưng muốn đứng tên cháu G con tôi vì cháu làm ở đó thì được ưu tiên hơn và chọn căn đẹp hơn. Tôi có nói là nên để người nhà đứng tên vì cháu còn mới đi làm nhưng người nhà cô H1 vẫn muốn cháu đứng tên đề sau lấy được căn hộ đẹp vì cháu là người công ty. Đến cuối tháng 5/2010, cô H1 gọi tôi và nói người nhà vẫn muốn nhờ cháu G đứng tên. Chúng tôi hẹn nhau ở ngoài đường, cô H1 đưa tiền cho tôi 1 tỷ, sau đó tôi và cháu G cùng đến công ty nộp tiền. Khi đó tôi chỉ cùng cháu G nộp tiền chứ không nói với cháu G là tiền của ai. Nộp tiền xong thì tôi điện cho cô H1 đến để lấy toàn bộ các giấy tờ công ty xác nhận vay vốn mà cháu G đã đưa lai cho tôi ngay sau khi nộp tiền thì cháu G và đã đưa cho người nhà. Tôi trình bày là đã nhắc rất kĩ cô H1 là nên để người nhà đứng tên nhưng cô H1 nói người nhà vẫn muốn cháu G đứng tên để hy vọng sau này Công ty dễ ưu tiên cán bộ hơn có thể được chọn căn. Tổ ty, người nhà cô H1 không có ý kiến gì, đến năm 2019 mới đi kiện. Do toàn bộ số tiền cô H1 đưa tôi đã nộp vào công ty X
nên đề nghị Q tòa hướng dẫn làm các thủ khởi kiện để công ty trên trả lại tiền cho vợ chồng ông C, bà M tránh sự việc năm 2010 đến nay, kéo dài.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tạ Hà G trình bày: Như tôi đã trình bày ở bản khai trước, khi vừa ra trường, tôi được tuyển dụng vào làm việc tại công ty X2 và XD Nông Lâm N2 từ khoảng cuối năm 2008. Đến khoảng tháng 5/2010 thì Công ty có thông báo cho CB, CNV của công ty V1: Công ty H3 cán bộ, CNV cho công ty vay vốn (Nội dung tôi nhớ có thông báo số 98 của công ty). Tôi được công ty thông báo được 01 thỏa thuận cho công ty vay vốn trị giá 01 tỷ đồng (Có nội dung thỏa thuận vay vốn kèm theo). Sau khi biết nội dung trên tôi có về kể với gia đình tôi thì bố tôi là ông Tạ Văn Ư có bảo tôi mang Thông báo của công ty cùng 01 thỏa thuận vay vốn mẫu của công ty để bố tôi kiểm tra. Sau đó tôi có lấy các tài liệu trên đưa về cho gia đình tôi xem. Khoảng 02 tuần sau thì tôi đi cùng bố tôi đến cơ quan tôi để nộp tiền. Bố tôi đưa cho 01 tỷ đồng, tôi mang lên phòng kế toán nộp vào công ty rồi lấy phiếu thu của công ty cùng thỏa thuận vay vốn đưa lại toàn bộ cho bố tôi rồi ở lại công ty làm việc tiếp. Thời điểm đó tôi nghĩ là tiền của gia đình tôi. Sau này tôi mới biết đó là tiền của bạn bố tôi. Tôi đề nghị Q tòa hướng dẫn làm các thủ khởi kiện để công ty trên trả lại tiền cho vợ chồng ông C, bà M tránh sự việc kéo dài. Tôi xin cam đoan sự việc trình bày trên là đúng sự thật như tôi đã khai ở các giai đoạn tố tụng trước, Tôi xin vắng Q tòa vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty X (nay là Công ty TNHH Một thành viên X1) do người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Trọng N1 trình bày: Ngày 31/5/2010, Công ty X (nay là công ty TNHH Một thành viên X1) có ký thỏa thuận vay vốn với bên cho vay là anh Tạ Hà G, số CMT là 111966677 do Công an thành phố H cấp ngày 06/4/2010, có HKTT tại: Số C N, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Số tiền vay là 1.000.000.000 đồng. Mục đích vay là nộp tiền theo thông báo số 98/TB-CT ngày 11/5/2010 của Công ty để bổ sung vào vốn đối ứng của Công ty. Trong thời hạn cho vay là 12 tháng, khi dự án B5 của Công ty được triển khai thực hiện, nếu bên B có nhu cầu sẽ làm đơn đăng ký mua nhà và được quyền mua căn hộ chung cư của dự án với diện tích tương ứng (theo thông báo số 98/TB-CT ngày 11/5/2010). Ngày 31/5/2010, anh G đã nộp cho Công ty 01 tỷ đồng theo phiếu thu số 118 quyền số 5. Đến nay, Công ty xác nhận dự nợ với ông G là 1 tỷ đồng. Công ty chỉ giao dịch và làm việc với anh G – nguyên là cán bộ của Công ty. Công ty không biết ông C1, bà M, ông P, bà H1 là ai. Việc ông C, bà M khởi kiện đòi tiền của ông P, bà H1, Công ty không liên quan gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/5/2025, bà Phạm Thị Ngọc H1 và ông Tạ Văn Ư có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân buộc Công ty X (nay là công ty TNHH Một thành viên X1) trả lại cho bà Nguyễn Thị M số tiền là 1 tỷ đồng.
Ngày 14/5/2025, bà Phạm Thị Ngọc H1 có đơn phản tố với nội dung:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M về việc buộc tôi phải hoàn trả số tiền 1 tỷ đồng.
- Xác định rõ trách nhiệm hoàn trả 1 tỷ đồng thuộc về bên nhận tiền, cụ thể là Công ty TNHH MTV X1;
- Buộc Công ty TNHH MTV X1 hoàn trả số tiền 1 tỷ cho bà Nguyễn Thị M, là nguyên đơn.
- Xác định rõ các bên có trách nhiệm liên đới gồm:
- - Tôi - người trung gian nhận và chuyển tiền;
- - Ông Tạ Văn Ư - người tôi nhờ hỗ trợ, giúp đỡ và trực tiếp nhận tiền;
- - Ông Tạ Văn Ư cùng anh Tạ Hà G - người trực tiếp nộp tiền vào Công ty;
- - Công ty TNHH MTV X1 - đơn vị nhận và giữ tiền.
Bà Nguyễn Thị M là người tiếp nhận và giữ giấy tờ gốc theo đúng yêu cầu và nguyện vọng ban đầu của bà M. Đầu năm 2019 theo yêu cầu và chỉ đạo của bà M đưa con trai bà M cầm giấy tờ gốc lên công ty để xác minh có đúng số tiền nộp vào công ty và yêu cầu công ty chuyển tên hợp đồng sang con trai bà M là Trần H. Nhưng công ty trả lời số tiền này đã nộp vào công ty, bây giờ muốn chuyển trên hợp đồng phải ra phòng công chứng. H đồng ý và nói về lấy CMTND và hộ khẩu để đi ra phòng công chứng, sau đó lại không công chứng nữa và bà M đi kiện tôi.
- Đề nghị Tòa án xem xét lại và chấp nhận yêu cầu độc lập của tôi trước đây để đảm bảo đúng quyền lợi và tính khách quan của vụ việc.
Tại bản án số 34/2020/DS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M.
- Buộc ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 phải trả ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M về việc rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm ngày 26/8/2020 bà Phạm Thị Ngọc H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Ngày 28/8/2020, ông Tạ Văn Ư có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án phúc thẩm buộc Công ty X1 phải trả tiền cho bà Phạm Thị Ngọc
H1 ( anh Tạ Hà G đã ủy quyền đòi nợ cho bà H1) để bà H1 có tiền trả cho ông C bà M.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 622/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 34/2020/DS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội giữa ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Minh P, bà Phạm Thị Ngọc H1; Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản án số 49/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 trả số tiền là 300.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M.
Buộc ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 phải trả cho ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 29/5/2025 ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 49/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đề nghị Tòa phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm; Xác định đúng bản chất sự việc, trách nhiệm các bên liên quan; Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M đối với bà H1 và ông Nguyễn Minh P.
Ngày 28/5/2025, ông Tạ Văn Ư có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của Nguyên đơn và công nhận hợp đồng. Buộc Công ty X ( Nay là Công ty TNHH Một thành viên X1) trả thẳng số tiền 1.000.000.000 đồng cho bà M để vụ án được chấm dứt không kéo dài.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Minh P, bà Phạm Thị Ngọc H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để xuất trình cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm; Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1, ông Tạ Văn Ư làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay ông Tạ Văn Ư vắng mặt do đó coi như ông Ư từ bỏ yêu cầu kháng cáo, nên đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông Ư.
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị V; chị Trần Thị Hồng N; ông Nguyễn Minh P vắng mặt đều có đơn xin vắng mặt; ông Tạ Văn Ư, anh Tạ Hà G vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quá trình giải quyết bà H1 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Minh P là bị đơn trong vụ án là không đúng. Hội đồng xét xử xét thấy tại đơn khởi kiện ngày 04/6/2019 của ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị M ghi người bị kiện là ông Nguyễn Văn P1 và bà Phạm Thị Ngọc H1. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định ông P1, bà H1 là bị đơn trong vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết các bên đương sự đều xác nhận do các bên có quan hệ cùng quê và là bạn bè thân thiết, nên vợ chồng ông C, bà M có nhờ vợ chồng ông P, bà H1 mua giúp căn hộ tại dự án B5 C của Công ty X (nay là công ty TNHH một thành viên X1) với giá ưu đãi là 1,5 tỷ đồng.
Theo bà H1 trình bày: bà có nhận số tiền 1.000.000.0000 đồng của ông C, bà M để nhờ mua hộ cho ông C bà M căn hộ chung cư tại dự án B5 C của Công ty X (nay là công ty TNHH một thành viên X1). Sau khi nhận tiền của bà M bà H1 đã chuyển cho ông Tạ Văn Ư (là bạn học) để nhờ ông Ư giúp đỡ mua căn hộ trên vì ông Ư có con trai là anh Tạ Hà G làm ở Công ty X (nay là công ty TNHH một thành viên X1). Tuy nhiên cho đến nay thì bà vẫn chưa mua được căn hộ tại dự án B5 C cho ông C, bà M.
Theo ông C, bà M trình bày: Mục đích ông bà đưa tiền cho ông P và bà H1 là để nhờ mua căn hộ tại dự án B5 C, nhưng cho đến nay đã 10 năm ông bà vẫn
chưa nhận được nhà. Do đó ông bà đề nghị ông P, bà H1 phải có trách nhiện thanh toán trả cho ông bà số tiền 1.000.000.000 đồng.
Xét thấy, việc bà H1 nhận số tiền 1.000.000.000 đồng của ông C, bà M đã được bà H1 thừa nhận, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên quá trình giải quyết bà H1 cho rằng khi bà M giao tiền cho bà chỉ có bà H1 với ông C, bà M, còn ông P không biết và không liên quan. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông C, bà M khẳng định có đến nhà bà H1, ông P nhiều lần để nói chuyện về việc nhờ mua giúp căn hộ, những lần ông C, bà M đến thì ông P đều có mặt, việc giao tiền diễn ra tại nhà ông P, bà H1 và ông P cũng có mặt ở nhà thời điểm các bên giao tiền. Hơn nữa, tại các biên bản làm việc tại Công an quận T, ông P cũng thừa nhận bà H1 có nói cho ông biết việc ông C, bà M nhờ bà H1 mua nhà hộ và đưa tiền cho bà H1. Xét thấy quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà H1 không xuất trình được tài liệu chứng cứ để chứng minh về việc ông P không biết và không liên quan đến việc này. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà M buộc ông P, bà H1 phải thanh toán trả cho ông C, bà M (đã chết ngày 24/8/2025) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà M là: ông Trần Văn C, anh Trần Văn H, chị Trần Thị V, chị Trần Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông C và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà M đều không yêu cầu Tòa án tính lãi đối với số tiền 1.000.000.000 đồng nợ gốc trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
* Đối với yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Ngọc H1: Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ngày 07/5/2025, bà Phạm Thị Ngọc H1 và ông Tạ Văn Ư có đơn yêu cầu độc lập và ngày 14/5/2025, bà Phạm Thị Ngọc H1 có đơn phản tố. Tuy nhiên thời điểm ông Ư, bà H1 có đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập là sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, hơn nữa Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Do vậy, căn cứ vào Điều 200 và Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn phản tố của bà Phạm Thị Ngọc H1 và đơn yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Ngọc H1 và ông Tạ Văn Ư, dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh P, bà Phạm Thị Ngọc H1. Tuy nhiên theo quy định của nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Tuy nhiên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên phần này là có thiếu sót cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Do vậy cần phải sửa án sơ thẩm về phần này.
* Về án phí: Do các đương sự đều là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 166; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
- Điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông Tạ Văn Ư.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 16/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân ( Nay là Tòa án nhân dân khu vực 2), thành phố Hà Nội.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 trả số tiền 300.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị M (đã chết ngày 24/8/2025) người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà M là ông Trần Văn C, anh Trần Văn H, chị Trần Thị V, chị Trần Thị Hồng N đối với bị đơn là ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 về việc đòi tài sản.
Buộc ông Nguyễn Minh P và bà Phạm Thị Ngọc H1 phải trả cho ông Trần Văn C và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị M là ông C, anh H, chị V, chị N số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho các đương sự do đều là những người cao tuổi.
Hoàn trả cho ông Trần Văn C và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị M là ông Trần Văn C, anh Trần Văn H, chị Trần Thị V, chị Trần Thị Hồng N số tiền 25.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006308 ngày 11/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGÔ TUYẾT BĂNG |
- 12 -
Bản án số 1024/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 1024/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Cẩn - Nguyễn Minh Phụng
