Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2025/HS-ST

Ngày: 25-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/HSST ngày 27/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 11/12/2025, đối với:

  1. Bị cáo: Đinh Công T, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn K và con bà Ngô Thị C; vợ: Nguyễn Thị Huyền T1; con có: 03 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh. (có mặt)

  2. Bị hại: Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1982 (vắng mặt)

    HKTT: Thôn Á, xã M, thành phố Hà Nội

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh Ngô Văn T2 – sinh năm 1991 (vắng mặt)
    • HKTT: Thôn V, xã M, TP .
    • + Anh Cao Văn Q – sinh năm 1994 (vắng mặt)
    • HKTT: Thôn Đ, xã M, TP .
  4. Người làm chứng:
    • + Anh Ngô Văn H1 – sinh năm 1995 (vắng mặt)
    • HKTT: Thôn V, xã M, TP .
    • + Anh Nguyễn Văn N – sinh năm 1981 (vắng mặt)
    • HKTT: Thôn Á, xã M, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Công T, sinh năm 1992, trú tại thôn V, xã M, thành phố Hà Nội làm nghề thu mua lợn ở khu vực xã M, thành phố Hà Nội. Vào khoảng 09 giờ ngày 02/8/2025, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia, biển kiểm soát: 29K-122.74 đi trên đường T, xã M theo hướng Á - V, xã M. Trên đường đi, T nhìn thấy 01 con lợn khoảng hơn 200 kg, có đốm đen trắng đi ven đường ngược chiều, quan sát thấy không ai trông giữ nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp. T đỗ xe bên vệ đường, đi bộ về phía con lợn thì T gặp Ngô Văn Tam sinh năm 1991, ở cùng thôn điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai (xe thùng), biển kiểm soát: 29H-796.12 chở Trần Công Đ, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã M và Ngô Văn H1, sinh năm 1995, trú tại thôn V, xã M đang đi ngược chiều với xe của T. Quan sát thấy xe của T2 nên T chỉ tay về phía con lợn. Khi T2 điều khiển xe ngang qua T thì T2 hỏi T: “Lợn xổng hay gì đấy”, T cười và không trả lời. T2 điều khiển xe vòng lên phía trước con lợn rồi dừng xe, T đuổi theo con lợn thì con lợn quay đầu chạy về phía nhà anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, trú tại: xóm T, thôn Á, xã M. Lúc này, H1 và Đ mở cửa phụ xe ô tô của Tam đi xuống, còn T2 vẫn ngồi trên xe, Đ hỏi T lợn ở đâu thì T không trả lời mà nói bị xổng. T quan sát con lợn trên chạy xuống hầm nhà của anh H thì T đi vào nhà anh H, gặp cháu Nguyễn Thị Mai H2, sinh năm 2007, là con gái của anh H, T nói với H2: “Có con lợn bị rơi xuống đường vừa chạy xuống hầm, cho chú đuổi lên nhé”, H2 đồng ý. Lúc này, T quan sát thấy con lợn đang trong chuồng lợn phía trong (kết cấu hầm của nhà anh H có 02 chuồng lợn thông nhau là chuồng lợn phía trong và chuồng lợn phía ngoài, muốn đi vào chuồng lợn phía trong thì phải đi qua chuồng lợn phía ngoài), lúc này cửa chuồng lợn phía trong và phía ngoài đều mở. Sau đó, T đi vào chuồng lợn để lùa con lợn ra, tuy nhiên khi lùa được con lợn sắp lên tới cửa hầm thì con lợn này lại chạy quay lại cuối hầm. T tiếp tục quay lại để lùa con lợn này, khi T đang lùa con lợn sắp tới cửa hầm thì Tam đi xuống rồi đứng ở cuối thùng xe của T2 cùng Đ, H1 để lùa đưa con lợn này lên bệ nâng xe của T2 mục đích để sau đó chuyển trả sang xe ô tô của T. Sau khi lùa được con lợn lên bệ nâng xe ô tô của T2 thì H1 yêu cầu T lùi xe của T đang đỗ cách nhà Nguyễn Văn H khoảng 30m, lại gần thùng xe ô tô của T2 để chuyển con lợn này sang thùng xe trả T. Tuy nhiên, T nói với H1: “Bọn mày chở luôn đi” rồi T nổ máy xe và điều khiển xe ô tô của mình đi trước. Cùng lúc đó, anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981, trú tại: thôn Á, xã M, là thợ đang lắp mái tôn chống nóng trên mái nhà

của Nguyễn Văn H thấy sự việc như vậy nên hỏi cháu Nguyễn Thị Mai H2 về việc gia đình H2 có bán lợn không, mà tại sao bán lợn thì không cân lợn, thì H2 nói không bán. Nguyễn Văn N gọi điện cho Nguyễn Văn H thông báo sự việc trên, rồi yêu cầu T2, H1, Đ ở lại làm việc, lúc sau H đi về nhà mình, đồng thời trình báo đến Công an xã M đến giải quyết vụ việc và tạm giữ vật chứng gồm:

  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển kiểm soát: 29H-796.12, số loại: New might, màu xanh, số khung: RLUMFT7KAMN000046, số máy: M283537D4CB; 01 giấy phép lái xe tên Ngô Văn T2; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên Cao Văn Q; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB1158899 hiệu lực đến ngày 19/12/2025; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 0148176 hiệu lực đến ngày 29/12/2025; 02 thẻ nhớ chứa nội dung vụ án.
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA Frontier, biển kiểm soát: 29K-122.74, số khung: RNHA49KHDRT091298, số máy: PD567145D4CB của Đinh Công T; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB 0858516 hiệu lực đến ngày 14/5/2026; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số EBB24/0004793 hiệu lực đến ngày 15/5/2025; 01 biên nhận thế chấp số 29K-122.74/TPBank đều mang tên Đinh Công T.

Cơ quan điều tra tiến hành đo trọng lượng đối với con lợn đẻ có đốm đen, trắng của gia đình anh Nguyễn Văn H, kết quả cân nặng là 217,5kg. Sau đó, Cơ quan điều tra đã trao trả con lợn cho gia đình anh Nguyễn Văn H quản lý.

Ngày 11/8/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H ra Yêu cầu định giá tài sản số A17183/YC-VPCQCSĐT đối với 01 con lợn của gia đình Nguyễn Văn H.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1104/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội kết luận:

“Giá trị của tài sản định giá được xác định bằng mức giá bình quân được khảo sát cụ thể: Giá trị của 01 con lợn đẻ có đốm đen, trắng, cân nặng 217,5kg tại thời điểm ngày 02/8/2025 là 11.000.000 đồng”.

Ngày 11/8/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H ra Quyết định số A14415/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu giám định đối với số khung, số máy đối với 02 xe ô tô thu giữ trong vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 5678/KL-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

  • Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI NEWMIGHTY màu xanh, đeo biển kiểm soát 29H-796.12 có số khung: RLUMFT7KAMN000046 và số máy M283537 D4CB là số nguyên thủy.
  • Xe ô tô nhãn hiệu KIA FRONTIER màu xanh, đeo biển kiểm soát 29K-122.74 có số khung RNHA49KHDRT091298 và số máy PD567145 D4CB là số nguyên thủy.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKS ngày 24 tháng 11 năm 2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Đinh Công T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đinh Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Công T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng.
  • Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
  • Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
  • Về biện pháp tư pháp: lưu theo hồ sơ vụ án 02 thẻ nhớ.
  • Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội, Điều tra viên Công an thành phố H đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.

[2] Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 02/8/2025, tại thôn Á, xã M, thành phố Hà Nội, Đinh Công T lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình Nguyễn Văn H nên đã có hành vi lén lút lấy trộm cắp 01 con lợn đẻ, trọng lượng 217,5 kg trị giá bằng tiền là 11.000.000đ nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xem xét tính chất, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật xong bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại i, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; sau khi phạm tội đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai và ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn khi đang nuôi 03 con nhỏ và xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung là phù hợp quy định Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Frontier, biển kiểm soát 29K-122.74: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Đinh Công T. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu xe ô tô trên không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 02/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số A19042/QĐ-VPCQCSĐT bằng hình thức trả lại xe ô tô cùng giấy tờ liên quan thu giữ của Đinh Công T là phù hợp.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Newmight, màu xanh, đeo BKS 29H - 796.12: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Ngô Văn Tam . Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu xe ô tô trên không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 02/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số A19043/QĐ-VPCQCSĐT bằng hình thức trả lại xe ô tô cùng giấy tờ liên quan thu giữ của Ngô Văn T2 là phù hợp.

[7] Về biện pháp tư pháp: 02 thẻ nhớ chứa nội dung vụ án được chuyển theo hồ sơ vụ án cần được lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Công T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Giao bị cáo cho UBND xã M, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã nơi bị cáo đăng ký thường trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

  4. Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
  5. Về biên pháp tư pháp: Lưu theo hồ sơ 02 thẻ nhớ.
  6. Về án phí: Bị cáo Đinh Công T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND KV 12 – Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Phòng THADS KV12 – Hà Nội;
  • - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BAHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger