Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:1008/2025/DS-PT

Ngày: 23/12/2025

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Bà Đặng Mai Hoa

Bà Trần Thị Diệp Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 675/2025/TLPT-DS ngày 16/10/2025, về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án số 81/2025/DSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất ( Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10), thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 913/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 925/2025/QĐPT-HPT ngày 8/12/2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1)

    Địa chỉ: Số G phố T, phường C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Tổng Giám đốc

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Minh T – Giám đốc xử lý nợ.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hà Đức C, bà Lê Thu H1, ông Lâm Đức H2 – Chuyên viên khối quản lý & xử lý nợ.

    ( Có mặt bà H1; Vắng mặt ông H2, ông C).

  2. Bị đơn: - Ông Kiều Văn H3, sinh năm 1979

    Địa chỉ: Thôn P, xã H, thành phố Hà Nội.

    - Bà Dương Thị Thu H4, sinh năm 1984

    Địa chỉ: Thôn N, xã N, thành phố Hà Nội

    Bà H4 ủy quyền cho ông H3. ( Vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

    • + Ông Nguyễn Danh H5, sinh năm 1956

    • + Bà Đinh Thị L, sinh năm 1971

    Cùng địa chỉ: số E, xóm T, xã D, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo ủy quyền của ông H5, bà L là ông Bùi Hữu T1 – Công ty L2; địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà I, số B Đê L, phường L, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Anh Nguyễn Danh M, sinh năm 1994

    • + Cụ Phí Thị T2, sinh năm 1940

    Cùng trú tại: Số E, xóm T, xã D, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Danh M và bà Phí Thị T2 là ông Bùi Hữu T1 – Công ty L2; địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà I, số B Đê L, phường L, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).

    • + Công ty Cổ phần P

    Trụ sở: Số D, tổ A, phường T, thành phố Hà Nội;

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Kiều Văn H3, sinh năm 1979

    Chức vụ: Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc. ( Vắng mặt)

    • + Văn phòng C1 (trước đây là Văn phòng C2);

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T3

    Địa chỉ: C + 376 Đê L, phường Ô, thành phố Hà Nội.

    ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/03/2011, S1 (trước đây là Ngân hàng TMCP N) cho ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 vay vốn theo hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 và Phụ lục số 1,2, số tiền vay 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng). Mục đích vay: Mua nhà ở, thời hạn vay: 48 tháng. Trả tiền nợ gốc theo lịch trả nợ quy định tại Phụ lục 2, trả tiền lãi vào ngày 23 hàng tháng tính theo dư nợ trên thực tế. Lãi suất cho vay trong hạn: áp dụng với tiền vay được tính bằng lãi suất cơ sở của Ngân hàng C3 (+) biên độ cho vay bằng VNĐ hoặc ngoại tệ tương ứng của tiền vay do Ngân hàng C4 tại thời điểm tương ứng (Lãi suất vay trong hạn là 24%/năm, lãi suất cơ sở là 18.5%/năm, biên độ cho vay là 5.5%/năm).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa đất số 2/245, tờ bản đồ số:

- 2 -

04 có diện tích 153,8 m2, hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 02333, do UBND huyện H, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2010, cấp cho ông Nguyễn Danh H5. Hợp đồng thế chấp số công chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội (nay là Văn phòng C1). Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/3/2011.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H3 thanh toán cho Ngân hàng 100.000.000 đồng tiền gốc vaò ngày 02/11/2011 và trả 50.000 đồng tiền lãi. ngày 25/4/2025. Kể từ ngày 02/11/2011 ông H3 không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận nên khoản vay của ông H3 phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 25/4/2011. Dư nợ của ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 tạm tính đến ngày 22/5/2025 là: 12.190.470.981 đồng bao gồm: Nợ gốc: 1.700.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.515.933.712 đồng; Lãi quá hạn: 5.655.973.720 đồng; Lãi phạt: 3.318.680.549 đồng;

Nay SHB khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 thanh toán cho S1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/5/2025 là: 8.871.727.432 đồng (tám tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng); trong đó: gốc 1.700.000.000 đồng; lãi trong hạn: 1.515.933.712 đồng và lãi quá hạn là 5.655.793.720 đồng. và lãi, lãi phạt phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 23/5/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  2. Kể từ ngày quyết định/bản án có hiệu lực pháp luật, ông Kiều Văn H3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho S1.

  3. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 đối với S1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho S1.

Đại diện bị đơn ông H3 trình bày: Ngày 25/3/2011, ông và bà Dương Thị Thu H4 (vợ cũ) có vay tiền của Ngân hàng TMCP N (nay là Ngân hàng TMCP S), theo hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 101CG16/HĐTD-TDH/2011, số tiền nhận nợ: 1.800.000.000 VNĐ, mục đích vay: Mua nhà ở, thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 29/4/2009, lãi suất vay: trong hạn là 24%/năm. Khi ký hợp đồng vay ông không nhớ bà H4 có ký hợp đồng tín dụng trung, dài hạn trên hay không nhưng bà H4 có biết và đồng ý vay tiền của Ngân hàng và có ký biên bản giao nhận tiền với Ngân hàng. Ông đã nhận đủ số tiền 1.800.000.000 đồng.

- 3 -

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay của ông, vợ chồng ông H5, bà L có thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa 2/245, tờ bản đồ số: 04 có diện tích 153,8 m2, hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 02333, do UBND huyện H, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2010 cấp cho ông Nguyễn Danh H5.

Do làm ăn thua lỗ và ông phải đi chấp hành hình phạt 09 năm tù nên ông chưa trả cho Ngân hàng được đồng nào. Nay ông vừa đi chấp hành án về, chưa có công ăn việc làm ổn định nên Ngân hàng khởi kiện thì ông đề nghị Ngân hàng cho ông được trả số tiền gốc và một phần lãi. Việc ông vay tiền của Ngân hàng bà H4 có biết nhưng không sử dụng vốn vay nên nay ông xin chịu trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng.

Về yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Danh H5 và bà Đinh Thị L: Ông không đồng ý hủy hợp đồng thế chấp tài sản giữa ông H5, bà L ký với Ngân hàng TMCP S. Việc ông H5, bà L tự ý trả 150 triệu đồng vào Ngân hàng ông không biết và cũng không phải trả cho ông. Nay ông vẫn nhận trách nhiệm về khoản nợ gốc 1.800.000.000 đồng với Ngân hàng và sẽ cố gắng trả Ngân hàng để giải chấp tài sản, trả sổ đỏ cho nhà ông H5. Còn việc ông H5 có vay mượn và thỏa thuận với Công ty cổ phần P là vụ án khác, không liên quan đến đến việc thế chấp đất để bảo lãnh cho khoản vay của cá nhân của ông. Ông H5 ký hợp đồng thế chấp trước mặt Công chứng viên, ông H5 đã được Công chứng viên giải thích rõ quyền, nghĩa vụ của các bên sau đó ông H5 đã đọc rất kỹ hợp đồng thế chấp và tự nguyện thế chấp tài sản cho khoản vay của cá nhân vợ chồng ông. Khoản vay này không liên quan gì đến Công ty nên đề nghị Tòa án không xem xét yêu cầu này của ông H5, bà L.

Tại Bản tự khai ngày 06/11/2023, bà Dương Thị Thu H4 trình bày: Bà và ông H3 ly hôn năm 2015. Tháng 10/2023 bà có nhận được thông báo thụ lý vụ án số 123/2023/TBTLDS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thì bà mới biết Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà và ông H3 chồng cũ của bà yêu cầu trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/3/2011 mà vợ chồng bà đã ký với Ngân hàng. Sau khi được xem tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, bà khẳng định chữ ký và chữ viết họ tên của bà viết tay trong tất cả các văn bản thủ tục vay vốn, thế chấp, nhận nợ không phải chữ ký, chữ viết của bà. Bà không biết việc vay tiền của Ngân hàng này vì từ năm 2010 đến nay bà đã bỏ về nhà mẹ đẻ sống, ông H3 vay tiền của Ngân hàng N1 bà không biết. Bà không biết năm 2011ông H3 có ký vay tiền của Ngân hàng TMCP N hay không. Bà khẳng định bà không vay và cũng không sử dụng vốn. Bà cũng không biết ông Nguyễn Danh H5 là ai, tại sao lại thế chấp đất của ông H5. Nếu ông H3 có ký vay tiền Ngân hàng thì ông H3 phải chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, bà không vay nên không có trách nhiệm trả.

- 4 -

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Đinh Thị L trình bày: Năm 2011, gia đình bà có nhu cần vay vốn nên qua môi giới biết ông H3 và ông B (là giám đốc Công ty P) nên gia đình bà nhờ ông H3 vay tiền hộ. Ông H5 nhờ vay 300 triệu đồng, Công ty P đồng ý cho vay và yêu cầu ông H5 thế chấp nhà đất để đảm bảo cho khoản vay. Sau khi hai bên thống nhất, Công ty P đã giao cho vợ chồng bà 150 triệu đồng và hai bên ký văn bản thỏa thuận cam kết sau 02 năm ông H5 trả 300 triệu cho Công ty thì Công ty trả lại sổ đỏ. Đến ngày 25/3/2011 thì ông H3 báo ông H5 chuẩn bị hồ sơ nhà đất để nhận nốt 150 triệu đồng còn lại. Ông H3 đưa ông H5 đến Văn phòng C2 để ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay 1.800.000.000 đồng của ông H3 với S1. Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp này ông H5 đã có dấu hiệu của bệnh thần kinh không ổn định từ năm 2010, đến năm 2012 mới đi điều trị bệnh ở Bệnh viện T5. Khi ông H5 ký hợp đồng thế chấp thì bà không biết. Sau khi ông H5 ký xong hợp đồng thế chấp gia đình bà cũng không nhận được 150 triệu đồng còn lại. Khoảng 6 tháng sau gia đình bà nhận được tin báo của Ngân hàng nội dung ông H3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên gia đình bà nghi ngờ ông H3 lừa đảo nên ông H5 cùng anh em trong gia đình mang 150 triệu đồng đến trả trực tiếp cho Ngân hàng. Ông H5 đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của ông H3 đến các cơ quan Công an huyện T và Công an thành phố H. Đến đầu năm 2012 Công an thành phố H thông tin là ông H3 đã bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác . Đối với đơn tố cáo của ông H5 thì từ năm 2012 đến nay gia đình bà chưa nhận được kết quả giải quyết đơn tố cáo của ông H5 tố cáo ông H3 và cũng không thấy Ngân hàng thông báo gì về việc thế chấp này.

Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Tuyên hợp đồng thế chấp số công chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội vô hiệu một phần, xác định phạm vi thế chấp của ông Nguyễn Danh H5 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông Kiều Văn H3 và bà Dương Thị Thu H4 cho khoản vay của ông H3 với Ngân hàng là 300.000.000 đồng, ông H5 đã trả cho Ngân hàng 150.000.000 đồng nên phạm vi bảo đảm còn 150.000.000 đồng tiền nợ gốc.

  2. Buộc Công ty cổ phần P và ông Kiều Văn H3 liên đới thực hiện nghĩa vụ cho vay và hoàn trả theo Văn bản thỏa thuận và cam kết ngày 16/3/2011.

* Ông Bùi Hữu T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông H5 trình bày: Năm 2011, gia đình ông H5 có nhu cầu vay vốn làm ăn, được người khác giới thiệu đến gặp ông Kiều Văn H3. Qua trao đổi với ông H3 thì được ông H3 giới thiệu là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần P, hiện đang cho rất nhiều cá nhân khác vay vốn tại địa phương. Ông H3 cho biết thêm nếu muốn vay thì phải ủy quyền hoặc bảo lãnh tài sản với Ngân hàng do ông H3 chỉ định. Vì vây, ngày 16/03/2011 vợ chồng ông H5 và Công ty cổ phần P ký kết Văn bản thỏa thuận và cam kết với nội dung: Ông H5 đồng ý ủy quyền hoặc bảo lãnh tài sản cho Công ty cổ phần P để vay vốn Ngân hàng với số tiền là 300.000.000 đồng, Công ty cổ phần P đồng ý dùng pháp nhân của mình để vay vốn cho ông H5, bà L, thời hạn vay vốn là 3 năm, bên vay không được trả vốn vay trước thời

- 5 -

hạn trên. Ngay sau khi ký Văn bản thỏa thuận trên, ông H5 nhận được số tiền 150.000.000 đồng, Công ty cổ phần P hẹn sau 15 ngày sẽ thanh toán số tiền còn lại.

Ngày 25/3/2011, ông H3 đưa ông H5 đến Văn phòng C2 để ký hợp đồng thế chấp số 002864 có nội dung thế chấp ngôi nhà duy nhất của vợ chồng để đảm bảo cho khoản vay 1.800.000.000 đồng của vợ chồng ông H3 với Ngân hàng H8 theo hợp đồng tín dụng số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/3/2011. Khoảng 6 tháng sau do nghi ngờ bị ông H3 lừa đảo nên ông H5 đã đem số tiền 150.000.000 đồng vay trước đó trả cho Ngân hàng S1.

- Về hiệu lực của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp: Theo hồ sơ bệnh án nội trú (mã ICD;F10.51) của Bệnh viện T5 ngày 06/3/2012 kết luận ông H5 mắc bệnh “Loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế” với một loạt triệu chứng và hội chứng + hội chứng paranoid do rượu, hoang tưởng ghen tuông + rối loại cảm xúc + rối loạn hành vi do hoang tưởng chi phối. Do vậy, tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp ông H5 là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

- Và theo chị H4 trình bày thì chị không ký hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp với S1. Chị H4 khẳng định chữ ký tên chị trong hai Hợp đồng này không phải của chị. Chị không vay, không sử dụng và không có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng,chị H4 không biết ông H5, bà L là ai tại sao lại thế chấp đất cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng chị. Anh H3 cũng thừa nhận anh đã tự ký và viết tên chị H4 trong hợp đồng tín dụng, việc anh H3 ký tên chị H4 là hành vi trái pháp luật. Chị H4 không có mặt và không ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nhưng Công chứng viên vẫn công chứng hợp đồng nên hành vi của Công chứng viên đã vi phạm pháp luật. Ông H5 yêu cầu độc lập: Đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp bị vô hiệu toàn bộ, đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ngoài ra, về thời hiệu giải quyết vụ án: Theo hợp đồng tín dụng thì bên vay có trách nhiệm trả lãi vào ngày 23 hàng tháng dương lịch, lãi vay được tính từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Đến ngày 28/3/2011 thì nguyên đơn đã giải ngân tiền vay. Căn cứ các bản phiếu tính lãi, và lãi phạt từ 28/3/2011 đến 17/5/2023, sổ phụ khoản tiền vay thể hiện kể từ thời điểm S1 giải ngân tiền vay đến 02/11/2011 bên vay trả được 100 triệu đồng nợ gốc, từ đó đến nay không trả được thêm bất cứ khoản tiền nào. Như vậy, kể từ ngày 25/4/2011 là thời điểm SHB biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nhưng không khởi kiện theo quy định của pháp luật thì thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng là 3 năm. Đến ngày 30/5/2023 S1 mới khởi kiện là hết thời hiệu khởi kiện. Đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 và Công văn số 02 ngày 02/8/2021 của TAND tối cao.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phí Thị T2 và anh Nguyễn Danh M không có quan điểm trình bày về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1.

- 6 -

Đại diện Công ty Cổ phần P trình bày: Năm 2011, qua giới thiệu và được biết gia đình ông H5 có nhu cầu vay vốn để làm ăn, vì thời điểm đó ông H5 không tự đứng ra vay vốn của Ngân hàng. Qua gặp gỡ, trao đổi ông H5 nói nhu cầu gia đình cần vay vốn khoảng 300.000.000 đồng, ông H5 nhất trí thế chấp tài sản của mình là thửa đất 2/245, Tờ bản đồ số: 04 có diện tích 153,8 m2, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội để bảo lãnh cho vợ chồng ông H3, bà H4 vay vốn Ngân hàng. Trước khi ký hợp đồng thế chấp, ông H3 có chuyển trước cho ông H5 vay số tiền 150.000.000 đồng, ông H3 chuyển tiền cho ông H5 vay với tư cách là đại diện Công ty cổ phần P để giao tiền và giấy tờ cam kết giữa hai bên. Sau đó, ông H3 và ông H5 đến Ngân hàng làm các thủ tục ký kết bảo lãnh bên thứ ba trước mặt Công chứng viên và đại diện Ngân hàng. Ông H5 được Công chứng viên hướng dẫn đọc hợp đồng thế chấp và số tiền 1.800.000.000 đồng bảo lãnh cho ông H3 vay tiền tại Ngân hàng S1. Ông H5 không có ý kiến thắc mắc gì và nhất trí ký bảo lãnh cho khoản vay trên trước sự chứng kiến của Công chứng viên và đại diện Ngân hàng. Do vậy, ông H5 yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp thì ông không đồng ý.

Đại diện Văn phòng C1 trình bày: Văn phòng C1 (trước đây là Văn phòng C2) có chứng nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có số công chứng 2864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011, giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Danh H5 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S1, bên vay là ông Kiều Văn H3. Quá trình thực hiện việc chứng thực Hợp đồng, Văn phòng công chứng đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về công chứng nói riêng để chứng thực hợp đồng nêu trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DSST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 10), thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Danh H5 và bà Đinh Thị L về việc yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp số c ông chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội (nay là Văn phòng C1) giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Danh H5 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S1 và không chấp nhận yêu cầu của ông H5, bà L về việc áp dụng thời hiệu đối với khoản tiền lãi.

  2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng S1 về khoản tiền lãi phạt chậm trả lãi với số tiền là 3.318.680.549 đồng.

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1). Buộc ông Kiều Văn H3 phải trả cho S1 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/03/2011, tổng số tiền tính đến ngày 22/5/2025 là: 8.871.727.432 đồng (tám tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng); trong đó: gốc 1.700.000.000 đồng; lãi trong hạn: 1.515.933.712 đồng và lãi quá hạn là 5.655.793.720 đồng

  4. Kể từ ngày 23/5/2025, ông Kiều Văn H3 tiếp tục phải trả khoản tiền lãi

- 7 -

phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/03/2011, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  1. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Kiều Văn H3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì SHB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa 2/245, tờ bản đồ số: 04 có diện tích 153,8 m2, hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 02333, do UBND huyện H, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2010 cấp cho ông Nguyễn Danh H5. Hợp đồng thế chấp số công chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội (nay là Văn phòng C1). Diện tích, kích thước tài sản được xử lý là diện tích, kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản đảm bảo.

  2. Trường hợp phát mại tài sản trên thì số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm sẽ được trích trả cho bà Đinh Thị L 1/2 giá trị tài sản gắn liền với đất theo giá trị tại thời điểm định giá tài sản làm thủ tục phát mại. Số tiền còn lại nếu không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ của ông Kiều Văn H3 thì ông H3 phải tiếp tục thanh toán nợ cho S1.

  3. Dành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị L nếu bà L có nhu cầu. Thời hạn thực hiện quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng là 03 tháng kể từ ngày bà L nhận được thông báo của Cơ quan thi hành án, nếu hết thời hạn trên mà bà L không có nhu cầu mua thì Cơ quan thi hành án có quyền bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm ngày 29/5/2025 ông Nguyễn Danh H5 và bà Đinh Thị L cáo một phần bản án đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông H5, bà L tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 002864/2011/HĐTC ngày 25/3/2011 vô hiệu; buộc Ngân hàng thương mại cổ phần S trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 829858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02333 do UBND huyện H cấp ngày 31/12/2010 cho ông Ngyễn Danh H6 và xem xét về thời hiệu khởi kiện của Hợp đồng tín dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở

- 8 -

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Danh H5, bà Đinh Thị L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Danh H5 và bà Đinh Thị L đều làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 25/03/2011 Ngân hàng S1 và ông Kiều Văn H3, bà Dương Thị Thu H4 ký kết hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, ông H3 thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng S1 và có ký Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/03/2011; Bà Dương Thị Thu H4 không thừa nhận vay tiền của Ngân hàng S1, không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp là chữ ký, chữ viết của bà, thời điểm năm 2011 bà và ông H3 sống ly thân, hiện nay bà H4 và ông H3 đã ly hôn, nên bà không biết việc ông H3 vay vốn Ngân hàng, không biết ông H5 là ai và tại sao lại thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm cho khoản vay của ông H3, ông H3 vay vốn của Ngân hàng thì ông H3 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, bà không vay nên không có trách nhiệm trả.

Tại biên bản hòa giải ngày 15/12/2023 và tại phiên tòa, ông Kiều Văn H3 thừa nhận ông đã ký thay bà H4 trong hợp đồng tín dụng và bà H4 không sử dụng vốn vay.

Xét thấy, khoản vay này ông H3 vay trong thời kỳ hôn nhân nhưng thời điểm đó bà H4 và ông H3 sống ly thân, bà H4 không ký vay, không sử dụng vốn vay, Hợp đồng tín dụng do mình ông H3 ký và Ngân hàng cũng đã giải ngân cho ông H3 số tiền vay là 1.800.000.000 đồng như hai bên thỏa thuận. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông H3 đều xác nhận khoản vay và nhận trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay này cho Ngân hàng S1, Ngân hàng cũng đồng ý về việc ông H3 thanh toán trả số tiền này cho Ngân hàng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H3 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng S1 số tiền nợ gốc là 1.800.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2]. Về yêu cầu trả nợ lãi: Xét thấy, tại hợp đồng tín dụng nêu trên quy định lãi suất tại thời điểm giải ngân: 24%/năm, lãi suất sẽ được tự động động điều chỉnh khi lãi suất cơ sở được điều chỉnh, điều chỉnh định kỳ 01 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 5,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất vay trong hạn tại thời điểm chậm trả. Xét mức lãi suất trong hạn

- 9 -

và lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận phù hợp với lãi suất quy định của Ngân hàng N2 tại thời điểm ký hợp đồng, ông H3 không trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng áp dụng lãi phạt quá hạn là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của ông H5, bà L đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu đối với khoản tiền lãi, xét thấy: Tại Hợp đồng tín dụng, các bên đã thỏa thuận về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn được thực hiện khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Sau khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng nhiều lần làm việc với ông H3 và ông H3 đều xác nhận nợ và xin gia hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hơn nữa theo quy định tại mục 24.2 Điều 24 của Hợp đồng quy định: “ ....Hợp đồng sẽ kết thúc và được thanh lý khi bên vay đã thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tiền vay và các loại khoản thu, phí, lãi phạt ( nếu có) và hoàn tất các nghĩa vụ khác theo đúng quy định tại Hợp đồng này”. Do vậy ngày 30/5/2023, Ngân hàng khởi kiện là không vi phạm về thời hiệu khởi kiện, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với khoản tiền lãi của người đại diện theo ủy quyền của ông H5, bà L là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Qua kiểm tra bảng tính lãi do Ngân hàng xuất trình xét thấy việc tính lãi của Ngân hàng phù hợp thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, tính đến ngày 22/5/2025 ông H3 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền lãi là 7.655.793.720 đồng trong đó: Lãi trong hạn là 1.515.933.712 đồng; lãi quá hạn là: 5.655.793.720 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Kiều Văn H3 trả Ngân hàng S1 số tiền lãi là 7.655.793.720 đồng tiền nợ lãi là có căn cứ.

Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không ai có đơn kháng cáo về số tiền nợ gốc và nợ lãi, nên buộc ông Kiều Văn H3 phải trả Ngân hàng S1 là: 8.871.727.432 đồng (tám tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng); trong đó: gốc 1.700.000.000 đồng; lãi trong hạn: 1.515.933.712 đồng và lãi quá hạn là 5.655.793.720 đồng.

Đối với khoản tiền lãi phạt chậm trả lãi 3.318.680.549 đồng. Tại phiên tòa so thẩm nguyên đơn đã rút yêu cầu này và không yêu cầu ông H3, bà H4 trả khoản tiền này cho Ngân hàng. Xét thấy việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, nên hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản đảm bảo cho khoản vay: Xét yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Danh H5, bà Đinh Thị L đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng thế chấp vô hiệu và buộc Ngân hàng S1 phải trả lại cho ông H5 bà L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02333 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Nguyễn Danh H5. Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo cho khoản vay trên ngày 25/03/2011 ông Nguyễn Danh H5 và Ngân hàng S1 đã ký kết hợp đồng thế chấp, theo đó ông H5 thế chấp cho Ngân hàng S1 Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa 2/245, tờ bản đồ số: 04 có diện tích 153,8 m2, hình thức sử dụng: riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H, thành

- 10 -

phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 02333, do UBND huyện H, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2010 cho ông Nguyễn Danh H5.

Xét thấy, quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của ông H5 cho rằng ông H5 bị bệnh về thần kinh, nên việc ký hợp đồng thế chấp là không tỉnh táo, minh mẫn. Tuy nhiên, theo tài liệu do phía ông H5 cung cấp thì thời điểm ông H5 có dấu hiệu bệnh là ngày 06/3/2012, ông Hồng điều T4 tại bệnh viện T5, thời điểm ông H5 ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng S1 là ngày 25/3/2011. Do vậy, không có căn cứ để cho rằng thời điểm ông H5 ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng S1 ông H5 không tỉnh táo, minh mẫn. Hơn nữa quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay ông H5, bà L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ của cơ quan chuyên môn kết luận ông H5 bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Ngoài ra, ông H5, bà L thừa nhận có thỏa thuận với ông H3 về việc thế chấp tài sản để nhờ ông H3 vay số tiền 300.000.000 đồng, trước khi ký hợp đồng thế chấp ông H3 đã đưa cho ông H5 vay 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi ông H5 thế chấp tài sản cho Ngân hàng và ông H3 vay được tiền của Ngân hàng thì ông H3 không giao nốt cho ông H5 số tiền 150.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận. Ông H5, bà L còn cho rằng bị ông H3 lừa nên đã tự trả Ngân hàng số tiền 100.000.000 đồng và làm đơn tố cáo ông H3 về hành vi lừa đảo. Tuy nhiên, cơ quan điều tra Công an thành phố H không có đủ căn cứ để xử lý ông H3 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông H5, bà L tiếp tục làm đơn tố cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đ và ngày 05/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã kết thúc xác minh và ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 5451/QĐ-ĐCSKT do không có sự việc phạm tội nêu trong đơn tố giác của vợ chồng ông Nguyễn Danh H5, bà Đinh Thị L.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp tài sản ngày 25/03/2011 được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tại thời điểm thế chấp ông Nguyễn Danh H5 là người có đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H5. Hợp đồng thế chấp đa được công chứng chứng thực tai Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), thành phố Hà Nội. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Do đó trường hợp ông Kiều Văn H3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ gốc, lãi trên cho Ngân hàng S1, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ.

Tuy nhiên, theo biên bản thẩm định ngày 29/11/2023 thì trên thửa đất thế chấp có một số công trình xây dựng gồm 01 nhà một tầng, 01 nhà 03 tầng xây năm 2022 và công trình phụ (sân, mái vảy, bể nước, nhà vệ sinh...) là do vợ chồng ông H5 xây dựng. Theo bà L trình bày tiền xây ngôi nhà 03 tầng là của anh Nguyễn Danh H7 (con trai ông H5, bà L), hiện anh H7 đã chết, anh H7 không có vợ con. Do vậy, toàn bộ tài sản trên đất là thuộc quyền sỡ hữu của ông H5, bà L.

- 11 -

Hợp đồng thế chấp là do một mình ông H5 ký, bà L không thế chấp phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho Ngân hàng. Do vậy, trong trường hợp phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì cần trích trả bà L 1/2 giá trị tài sản gắn liền với đất và dành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho bà L nếu bà L có nhu cầu mua là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 218 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Án lệ số 11/2017/AL.

Trường hợp số tiền xử lý các tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng S1, thì ông H3 phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng S1.

Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, thì các hộ gia đình đang cư trú tại diện tích nhà đất trên cũng như các gia đình, những người khác đang ăn ở thực tế hay thuê, ở nhờ tại diện tích nhà đất đó phải chuyển dọn nhà cửa, tài sản đi chỗ khác để thi hành án.

+ Đối với việc ông H3 và ông H5 thỏa thuận về vay vốn với nhau như thế nào là giao dịch dân sự giữa ông H3 và ông H5. Do vậy dành quyền khởi kiện cho ông H5 đối với ông H3 bằng một vụ án khác khi ông H5 có yêu cầu.

+ Đối với yêu cầu buộc công ty Cổ phần P và ông Kiều Văn H3 liên đới thực hiện nghĩa vụ cho vay và hoàn trả theo văn bản thỏa thuận và cam kết ngày 16/3/2011. Đây là yêu cầu liên quan tới giao dịch dân sự giữa ông Kiều Văn H3 và ông Nguyễn Danh H5, không liên quan tới khoản vay của ông H3 và Ngân hàng TMCP S vì vậy ông H5 và bà L có quyền khởi kiện ông H3 và Công ty Cổ phần P trong một vụ án khác.

Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Danh H5, bà Đinh Thị L, Tuy nhiên xét thấy quá trình giải quyết vụ án ông H5, bà L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập, nhưng tại phần quyết định của bản án sơ thẩm lại tuyên không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H5, bà L là không chính xác cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Do vậy cần sửa án sơ thẩm về cách tuyên đối với phần này.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

* Về an phi: Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Danh H5 do ông H5 là người cao tuổi; bà Đinh Thị L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 292, 295, 298, 299, 323, 463, 466, 688 BLDS năm 2015

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng

- 12 -

án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Danh H5, bà Đinh Thị L.

  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất ( Nay là Tòa án nhân dân khu vực 10), thành phố Hà Nội.

  3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Danh H5 và bà Đinh Thị L về việc yêu cầu hủy Hợp đồng thế ch ấp số c ông chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội (nay là Văn phòng C1) giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Danh H5 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng S1 và không chấp nhận yêu cầu của ông H5, bà L về việc áp dụng thời hiệu đối với khoản tiền lãi.

  4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng S1 về khoản tiền lãi phạt chậm trả lãi với số tiền là 3.318.680.549 đồng.

  5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1). Buộc ông Kiều Văn H3 phải trả cho S1 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/HĐTD-TDH/2011 ngày 25/03/2011, tổng số tiền tính đến ngày 22/5/2025 là: 8.871.727.432 đồng (tám tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng); trong đó: gốc 1.700.000.000 đồng; lãi trong hạn: 1.515.933.712 đồng và lãi quá hạn là 5.655.793.720 đồng

    Kể từ ngày 23/5/2025, ông Kiều Văn H3 tiếp tục phải trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 1101CG16/H ĐTD-TDH/2011 ngày 25/03/2011, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  6. Trường hợp ông Kiều Văn H3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền trên cho Ngân hàng S1, thì Ngân hàng S1 có quyền yêu cầu cơ thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa 2/245, tờ bản đồ số: 04, tại địa chỉ: xóm T, xã D, huyện H ( N là xã D), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH 02333, do UBND huyện H, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/12/2010 mang tên ông Nguyễn Danh H5. Theo Hợp đồng thế chấp số c ông chứng: 002864/2011/HĐTC quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/03/2011 tại trụ sở Văn phòng C2, thành phố Hà Nội (nay là Văn phòng C1). Diện tích, kích thước tài sản được xử lý là diện tích, kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản đảm bảo.

    Trường hợp phát mại tài sản trên thì số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm sẽ được trích trả cho bà Đinh Thị L 1/2 giá trị tài sản gắn liền với đất theo giá trị tại thời điểm định giá tài sản làm thủ tục phát mại. Số tiền còn lại nếu

- 13 -

không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ của ông Kiều Văn H3 thì ông H3 phải tiếp tục thanh toán trả cho Ngân hàng S1.

Dành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị L nếu bà L có nhu cầu. Thời hạn thực hiện quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng là 03 tháng kể từ ngày bà L nhận được thông báo của Cơ quan thi hành án, nếu hết thời hạn trên mà bà L không có nhu cầu mua thì Cơ quan thi hành án có quyền bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, thì các hộ gia đình đang cư trú tại diện tích nhà đất trên cũng như các gia đình, những người khác đang ăn ở thực tế hay thuê, ở nhờ tại diện tích nhà đất đó phải chuyển dọn nhà cửa, tài sản đi chỗ khác để thi hành án.

  1. Về án phí:

    • + Án phí sơ thẩm: Ông Kiều Văn H3 phải chị 116.872.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    • Bà Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018037 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội ( Nay là Thi hành án dân sự thành phố H).

    • Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) 59.520.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0032232 ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch thất, thành phố Hà Nội ( Nay là Thi hành án dân sự thành phố H).

    • + Án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Nguyễn Danh H5 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0059383 ngày 27/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

    • Bà Định Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0059382 ngày 27/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

  2. Trường hợp Ban an, Quyết đinh được thi hanh theo quy đinh tai Điều 2 Luật thi hanh an dân sự thi người được thi hanh an dân sự, người phai thi hanh an dân sự co quyền thoa thuận thi hanh an, quyền yêu cầu thi hanh an, tự nguyện thi hanh an hoặc bị cưỡng chế thi hanh an theo quy đinh tai Điều 6, Điều 7 va Điều 9 Luật Thi hanh an dân sự; thời hiệu thi hanh an được thực hiện theo quy đinh tai Điều 30 Luật thi hanh an dân sự.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;

  • - TAND khu vực 10

  • - Thi hành án dân sự TP. Hà Nội;

  • - Đương sự;

  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG.

- 14 -

- 15 -

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1008/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1008/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB) - Kiều Văn Hưng, Dương Thị Thu Hà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger