Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 10/2026/HS-PT

Ngày 02 - 02 - 2026

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan - Bà Điêu Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2026/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026. Do có kháng cáo của bị cáo Đặng Tuyên H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2025/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026.

- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Tuyên H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 03/02/1991, sinh tại xã Y, tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Y, tỉnh Ninh Bình (trước sáp nhập là thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định); nơi cư trú: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn H1, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1958; bị cáo có vợ là Lường Thị K, sinh năm 1993, bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 13/8/2025 cho đến nay “có mặt”.

- Nguyên đơn dân sự: Anh Đàm Văn L1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản S, xã S, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo: Anh Lường Văn B, sinh năm 1960, địa chỉ: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La.

- Người làm chứng:

  • + Anh Lò Văn H2, sinh năm 2006, địa chỉ: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La.
  • + Chị Lường Thị Q, sinh năm 1980, địa chỉ: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La.
  • + Anh Bùi Hồng Q1, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Trần Thế A, sinh năm 1993, địa chỉ: Tiểu khu C, xã T, tỉnh Sơn La.
  • + Anh Lường Văn V, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Toà án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/3/2025, anh Đàm Văn L1, sinh năm 1989, trú tại tổ I, phường T, tỉnh Điện Biên và Đặng Tuyên H đến nhà anh Lò Văn B1, sinh năm 1960, trú tại: Bản M, xã S, tỉnh Sơn La ăn cơm. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, anh L1 ăn cơm xong, nhờ Lò Văn H2, sinh năm 2006, trú tại bản Mường Và, xã S, tỉnh Sơn La điều khiển xe mô tô đưa về. Do nghi ngờ anh L1 có mối quan hệ tình cảm với chị Lường Thị K (vợ H), vì ghen tuông nên H vào bếp nhà anh B1, lấy 01 con dao nhọn (dao làm bếp của gia đình anh B1) đuổi theo anh L1. Khi xe của H2 đi qua cổng nhà anh B1 khoảng 5m thì H đuổi kịp, tay phải H cầm dao vung cao qua đầu, dùng lực đâm từ trên xuống dưới, từ trái qua phải đâm vào dưới bả vai phía sau bên phải của anh L1 gây chảy máu. Anh H2 tiếp tục lái xe chở anh L1 bỏ chạy, H được người dân can ngăn nên dừng lại. Hậu quả, anh L1 bị thương, được đưa đến bệnh viện đa khoa huyện S điều trị. Ngày 31/3/2025, anh Đàm Văn L1 làm đơn trình báo đến Công an xã M, huyện S, tỉnh Sơn La yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao kim loại, cán bằng gỗ, một lưỡi sắc, mũi nhọn, tổng chiều dài 33,5cm, cán dao hình trụ dài 13,5cm, đường kính 2,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, bản rộng nhất 4,5cm.

Ngày 18/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S Quyết định trưng cầu giám định số: 1653/QĐ-CQCSGĐ, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh S giám định con dao thu giữ trong vụ án: Mẫu gửi giám định là gì? Thuộc loại vũ khí nào? Có còn sử dụng được hay không?

Tại kết luận giám định số: 505/KL-KTHS ngày 26/4/2025 của phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu gửi giám định là dao nhọn; thuộc danh mục dao có tính sát thương cao, dao vẫn còn sử dụng được.

Tại công văn số: 308/PC09 ngày 17/6/2025 của phòng K1 Công an tỉnh S, bổ sung kết luận giám định: “Con dao mà Đặng Tuyên H sử dụng với mục đích xâm phạm sức khỏe (gây thương tích) cho anh Đàm Văn L1 là dao có tính sát thương cao, thuộc vũ khí quân dụng”.

Ngày 31/3/2025 Công an xã M, tỉnh Sơn La xem xét dấu vết trên thân thể anh Đàm Văn L1, kết quả: Dưới bả vai bên phải 10cm phát hiện 01 vết thương tích cụ thể: 01 vết thương rách da đã được khâu 04 mũi, kích thước 04x01cm; 01 vết bầm tím diện rộng 05x04cm. Ngoài ra không phát hiện thương tích nào khác.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 112/KLTTCT-TTPYGDDTYK ngày 25/4/2025 của Trung tâm pháp y - Giám định y khoa tỉnh S kết luận: Tỷ lệ tổn thương của Đàm Văn L1 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).

Ngày 20/5/2025, anh Đàm Văn L1 rút đơn tố giác, không yêu cầu khởi tố đối với hành vi cố ý gây thương tích của Đặng Tuyên H. Ngày 01/8/2025, Phòng PC01 Công an tỉnh S Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích cho sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Tuyên H, mức phạt 6.500.000đ. Huấn đã chấp hành xong.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã xét xử và Quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Đặng Tuyên H phạm tội: Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

Xử phạt bị cáo Đặng Tuyên H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 13/8/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án.

Do không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 09/12/2025 bị cáo Đặng Tuyên H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Đặng Tuyên H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giữ nguyên nội dung kháng cáo cho bị cáo được hưởng mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án:

  1. Đề nghị Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Tuyên H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2025/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La như sau:

    Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Tuyên H phạm tội: Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

    Xử phạt bị cáo Đặng Tuyên H 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng, thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (là ngày 02/02/2026).

    Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đề nghị tuyên trả tự do ngay cho bị cáo Đặng Tuyên H ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Tạm hoãn xuất nhập cảnh đối với bị cáo Đặng Tuyên H trong thời gian chấp hành án.

    Giao bị cáo Đặng Tuyên H cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Sơn La được trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo.

  2. Về án phí: Bị cáo Đặng Tuyên H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Đặng Tuyên H nhất trí với quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội tại cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội không oan sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo không có tranh luận và đối đáp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/12/2025 bị cáo Đặng Tuyên H có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức, đúng chủ thể, đảm bảo về thủ tục nội dung theo quy định tại định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Đặng Tuyên H được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.3] Về xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Đàm Văn L1 là người bị bị cáo sử dụng dao gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 02% tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là chưa phù hợp với hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với trường hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đúng tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích là chưa đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ công văn số: 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự của Tòa án nhân dân tối cao về hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: “Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự”.

Việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng nhằm bảo đảm xác định đúng địa vị pháp lý của người bị gây thương tích trong vụ án, phù hợp với hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành. Không làm thay đổi bản chất hành vi phạm tội, không làm thay đổi tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Mặt khác tại cơ quan điều tra anh Đàm Văn L1 rút đơn tố giác, không yêu cầu khởi tố đối với hành vi cố ý gây thương tích của Đặng Tuyên H và tại giai đoạn sơ thẩm anh Đàm Văn L1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu đề nghị gì thêm. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự và tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Tuyên H:

Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Tuyên H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng của bản án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ lên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng có đủ cơ sở xác định: Do nghi ngờ Đàm Văn L1 có quan hệ tình cảm với chị Lường Thị K (vợ H) nên Đặng Tuyên H đã thực hiện hành vi dùng dao sắc nhọn có tính sát thương cao (là vũ khí quân dụng, được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 01/01/2025 của Quốc hội; Quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.) gây thương tích cho anh Đàm Văn L1, bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 02% (hai phần trăm).

Bị cáo Đặng Tuyên H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Đặng Tuyên H phạm tội: Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, nhận định về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định áp dụng mức hình phạt 16 (mười sáu) tháng tù đối với bị cáo Đặng Tuyên H là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung thêm tài liệu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng gồm danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng của bà nội bị cáo là bà Đặng Thị C và Công nhận Liệt sỹ của ông nội bị cáo là ông Đặng Văn C1 là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội chấp hành đúng chính sách pháp luật, nội quy, quy chế của địa phương, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Bị cáo Đặng Tuyên H có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên toà đề nghị giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Xét việc cho bị cáo Đặng Tuyên H được mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo không gây nguy hại cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, việc chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời đảm bảo tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.

Từ những nhận định, đánh giá nêu trên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Tuyên H, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Bị cáo Đặng Tuyên H đang bị áp dụng biện pháp tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời hạn chấp hành thi hành án phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Đặng Tuyên H được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 304, khoản 3 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị và không có khả năng thi hành không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Song trong thời gian chấp hành án, tạm hoãn xuất nhập cảnh đối với bị cáo, vận dụng khoản 2 Điều 36 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Đặng Tuyên H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Tuyên H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2025/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La như sau:

    Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 36 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Tuyên H phạm tội: Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

    Xử phạt bị cáo Đặng Tuyên H 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng, thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (là ngày 02/02/2026).

    Trả tự do cho bị cáo Đặng Tuyên H ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    “Giao bị cáo Đặng Tuyên H cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Sơn La được trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự”.

    “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự”.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 5 Điều 304 và khoản 3 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tạm hoãn xuất nhập cảnh đối với bị cáo Đặng Tuyên H trong thời gian chấp hành án.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Tuyên H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 02/02/2026)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - TAND khu vực 3 - Sơn La;
  • - VKSND khu vực 3 - Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Nguyên đơn dân sự; NCQLNV liên quan đến vụ án;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng Giám đốc, KT,TT và THA;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Tuấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/HS-PT ngày 02/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự phúc thẩm (tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 10/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/02/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Tuyên H phạm tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo Điều 304 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger