|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2026/DS-PT Ngày: 23/01/2026 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thùy Ngân
Các Thẩm phán: Ông Vi Khánh Dần
Ông Nông Đức Thọ
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Luyện Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2025/QĐ-PT ngày 25/12/2025 và Thông báo hoãn phiên toà số 20/TB-TA ngày 31/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ma Thị S, sinh năm 1938
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn A, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị T, sinh năm 1985 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nông Văn D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Đàm Hải N, sinh năm 1959 (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Cao Bằng.
- Hạt kiểm lâm K2, tỉnh Cao Bằng.
- Bà Đàm Thị T2, sinh năm 1960 (Có mặt).
- Ông Đàm Hải K, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
- Ông Đàm Đình N1, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn D1, chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Trung V, chức vụ: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (Có mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Quang V1, chức vụ: Hạt trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nông Thị T1, chức vụ: Kiểm lâm viên (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đàm Hải K, Đàm Đình N1: Ông Đàm Hải N, sinh năm 1959 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng:
- Ông Đàm Văn B, sinh năm 1966 (Có mặt)
- Ông Đàm Văn S1 (Vắng mặt)
- Ông Hứa Văn N2, sinh năm 1943 (Vắng mặt)
- Ông Nông Văn S2, sinh năm 1951 (Có mặt)
- Ông Nông Văn H, sinh năm 1961 (Có mặt)
- Ông Triệu Văn V2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
- Ông Nông Văn T3, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
- Bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1938 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng.
Cùng địa chỉ: Xóm N - V, xã N, tỉnh Cao Bằng.
- Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị Tuyết .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị T trình bày:
Khu đồi sau nhà bỏ hoang nhiều năm không ai canh tác và quản lý. Năm 1980, bà Ma Thị S khai hoang, tôn tạo làm rẫy, trồng các loại cây hoa màu, sau nhiều năm canh tác, đất cằn có nhiều cây con của rừng tự nhiên mọc. Gia đình bà S đã khoanh nuôi, chăm sóc, quản lý liên tục, phát triển thành rừng tự nhiên với diện tích khoảng 3.500m².
Khu rừng nằm ở địa điểm xóm N - V, xã N, tỉnh Cao Bằng, vị trí giáp ranh:
Phía Bắc giáp với đất của Đàm Văn S1;
Phía Đông giáp với đất của Nông Thị H1;
Phía Nam giáp với nhà của Nông Văn T3;
Phía Tây giáp với đất của Đàm Văn S1.
Khu rừng thuộc tờ bản đồ địa chính số 15 (F-48-45-222-(b-IV)), bản đồ lâm nghiệp thửa 194, tờ bản đồ số 01. Gia đình nguyên đơn chăm sóc và quản lý khu rừng liên tục, ổn định từ năm 1980 đến năm 2004 nhà nước tiến hành cấp quyền sử dụng đất cho dân nhưng do diện tích khu đất tranh chấp gia đình nguyên đơn quản lý không đủ 5.000m² nên không được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Gia đình bà S vẫn tiếp tục khoanh nuôi, chăm sóc quản lý, liên tục ổn định đến nay đã được 42 năm. Đến ngày 15/3/2022, ông Đàm Hải N cùng anh em họ hàng đến chặt phá cây để tranh chấp một nửa khu đất rừng với diện tích là 1.565,2m² với vị trí giáp ranh: Phía Bắc giáp với Đàm Văn S1; phía Tây giáp với Đàm Văn S1; Phía Nam giáp với Triệu Văn A, phía Đông giáp với Triệu Văn A. Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Đàm Hải N chấm dứt hành vi sử dụng đất của gia đình nguyên đơn tại tờ bản đồ địa chính số 15 (F-48-45-222-(b-IV)), bản đồ lâm nghiệp thửa 194, tờ bản đồ số 01 tại V, xã N, tỉnh Cao Bằng, dọn sạch cây keo đã trồng trên đất và trả lại đất cho nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông Đàm Hải N trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Là đất do tổ tiên ông khai phá, khoanh nuôi và sử dụng từ trước năm 1940 cho đến nay, thuộc tờ bản đồ địa chính số 15 (F-48-45-222(b-IV)), bản đồ lâm nghiệp thửa số 194, tờ bản đồ số 01, diện tích đất tranh chấp 1.565,2m² là đất rừng sản xuất, chưa được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, địa chỉ khu đất tại xóm V - N, xã N, tỉnh Cao Bằng. Vị trí tứ cận tiếp giáp như sau:
Phía Đông giáp khu rừng của ông Triệu Văn K1 (Giao cho bà Ma Thị S quản lý từ năm 1996);
Phía Nam giáp hai nền nhà cũ của ông Triệu Văn K1 và nhà bà Ma Thị S;
Phía Bắc giáp rừng của ông Đàm Văn S1;
Phía Tây giáp khu rừng của ông Đàm Văn S1.
Từ trước năm 1940 đến năm 1956, tại địa phận Vò Khuốt chỉ có gia đình ông Đàm Hải N và gia đình ông Đàm Văn S1 cùng sinh sống. Thửa đất 194 do gia đình ông N sử dụng liên tục, lâu dài, đất rừng đã bị cháy 02 lần, lần 1 vào năm 1980, lần 2 là năm 2015 khi đó rừng vẫn là rừng nguyên sơ chỉ có toàn guột. Đến tháng 4/2022 cho đến nay gia đình ông N tiếp tục khoanh nuôi, nuôi trồng và trồng cây keo trên đất. Ông Đàm Hải D2 là bố ruột của ông N, ông Đàm Đình Thà L chú ruột của ông N cùng sử dụng và chia nhau quản lý, sử dụng cho đến nay. Hiện nay vẫn do 04 hộ gia đình canh tác, sử dụng hộ ông Đàm Hải N, Đàm Hải K (em trai ông N), bà Đàm Thị T2, Đàm Đình B1 (con của ông Đàm Đình T5). Ông Đàm Đình B1 (đã chết) có con là Đàm Đình N1 kế thừa. Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Ma Thị S.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị T2 trình bày: Bà là con đẻ của ông Đàm Đình T5, anh trai bà là Đàm Đình B1 đã chết. Diện tích đất hiện nay tranh chấp là ông, cha khai phá, để lại cho hai gia đình của ông N và gia đình bà sử dụng từ trước cho đến nay. Đất rừng của bà và đất rừng gia đình ông B gần nhau là do cùng chung anh em chia nhau, sau khi tan Hợp tác xã bà đều canh tác ở đây, không phải của gia đình bà S nên bà không nhất trí với yêu cầu của bà Ma Thị S.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đàm Hải K trình bày: Ông là em trai của ông Đàm Hải N, thửa đất 194 hiện nay bà S đang làm đơn khởi kiện có nguồn gốc từ năm 1965 bố ông canh tác, sử dụng. Từ năm 2014, ông K, ông N, ông B1, bà T2 cùng nhau canh tác, sử dụng, đến năm 2021 trồng cây keo cho đến nay. Ông không nhất trí với yêu cầu của bà S do đất của gia đình ông đã khai phá, canh tác từ lâu qua nhiều đời.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đàm Đình N1 trình bày: Ông là con ruột của ông Đàm Văn B2, theo ông được biết thửa đất số 194 hiện nay bà S khởi kiện do ông, bà, tổ tiên để lại. Ông đi làm xa nhà, thỉnh thoảng mới về nhà nên không rõ quá trình canh tác thửa đất trên như thế nào, bố ông mất đột ngột nên không nhắn nhủ và nói gì với ông. Ông nhất trí với những ý kiến ông N trình bày về nguồn gốc đất, về quá trình sử dụng thì sau khi bố ông chết, ông đi làm ở công ty không ở nhà nên không sử dụng diện tích hiện nay đang tranh chấp. Ông không nhất trí với yêu cầu của bà S, vì đó là đất tổ tiên của gia đình ông.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đại diện UBND xã N trình bày: Trong vụ án này quyền sử dụng đất theo thực tế thửa 194 và thửa 111, chưa được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho cá nhân nào thì vẫn do UBND xã N quản lý. Trong quá trình giải quyết các bên đương sự không có giấy tờ hợp pháp chứng minh về nguồn gốc đất, về quá trình sử dụng, ngoài lời khai những người làm chứng, cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Ủy ban nhân dân xã N đã có ý kiến để nghị các bên đương sự thỏa thuận với nhau, nhưng các đương sự không nhất trí. Do đất có tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, theo hướng để UBND xã N tiếp tục quản lý thửa đất 194, tờ bản đồ lâm nghiệp, cụ thể là lô 52a, khoảnh 2, tiểu khu B, vị trí đất hiện nay đang tranh chấp.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Đại diện Hạt Kiểm lâm K2 trình bày: Hạt Kiểm lâm không có tài liệu chính xác về đất đai, Kiểm lâm chỉ quản lý về tài sản trên đất, như cá nhân chặt phá rừng trái phép sẽ tiến hành kiểm đếm và xử phạt theo quy định. Vào năm 2022, Kiểm lâm H đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đàm Hải N vì có hành phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại lô E, khoảnh 2, tiểu khu B - Xóm N - Vò Khuốt, xã N với số tiền 5.000.000 đồng và buộc ông N trồng lại rừng. Chính là diện tích hiện nay các đương sự đang tranh chấp, những cây keo ông N trồng trên đất tranh chấp là để thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trồng lại rừng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 25/3/2022. Ông Đàm Hải N phải trồng lại rừng trên diện tích 0,0437 ha rừng đã bị phá.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm những người làm chứng trình bày:
Ông Hứa Văn N2, ông Nông Văn S2, ông Nông Văn H trình bày khu đất đang tranh chấp do bà Ma Thị S khai phá và canh tác quản lý cho đến năm 2022, thì xảy ra tranh chấp giữa ông N và bà S.
Bà Hoàng Thị T4 trình bày: Khi bà về làm dâu đã thấy ông K1 canh tác phần đất đang tranh chấp, không phải gia đình ông N. Diện tích đất này ông K1 mua lại với ông N và canh tác được một thời gian, sau đó ông K1 chuyển vào N thì ông A con bà S canh tác.
Những người làm chứng: Ông Đàm Văn B, ông Đàm Văn S1 khẳng định đất Vò Khuốt chỉ có của gia đình ông B và gia đình ông N do ông cha để lại. Đất của gia đình ông có đất liền kề với đất của ông N. Ông, cha giao lại cho ông và Sô quản lý, canh tác, không phải do bà S khai hoang.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp do nguyên đơn khai hoang từ những năm 1980 và sử dụng cho đến năm 2022 ông N đến chặt phá rừng và tranh chấp. Những người làm chứng đều xác nhận về nguồn gốc và quá trình sử dụng như nguyên đơn đã trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận, do nguyên đơn là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 2, điểm a khoản 2 Điều 59, Điều 136, khoản 1 Điều 164 của Luật đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 7, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; điểm d, khoản 2 Điều 102 Luật Lâm nghiệp năm 2017; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ma Thị S về việc yêu cầu bị đơn ông Đàm Hải N trả lại diện tích đất lô tại 52a, khoảnh 2, tiểu khu B có diện tích 1.368m² thuộc một phần thửa đất số 94, diện tích 15.700m² tờ bản đồ số 1, bản đồ đất lâm nghiệp (Tờ số 15 (F - 48 - 45 - 222 - (b - IV)) xã N (trong đó có 672,3 m² chồng đè lên thửa đất số 111 tờ bản đồ địa chính xã N), địa danh V - N, xã N, tỉnh Cao Bằng) do thuộc quyền quản lý của UBND xã N, có các phía tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp đất bà Ma Thị S có cạnh dài 3,98m + 9,98m + 9,94m + 7,76m + 7,69m + 2,16m + 8,30m + 4,15m = 53,87m;
- Phía Tây giáp đất ông Đàm Văn B có cạnh dài 4,70m + 3,31m + 4,57m + 3,12m + 4,40m + 19,77m = 39,87m;
- Phía Nam giáp đất bà Ma Thị S có cạnh dài 4,16m + 7,06m + 12,68m + 7,6m + 5,26m = 36,76m;
- Phía Bắc giáp đất ông Đàm Văn B có cạnh dài 13,62m + 2,64m = 12,26m.
(Có sơ đồ trích đo thửa đất đo vẽ ngày 24/02/2025, ký duyệt ngày 13/5/2025 của Trung tâm điều tra, đo đạc, quy hoạch Nông lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng kèm theo)
- Ủy ban nhân dân xã N có trách nhiệm quản lý diện tích đất tranh chấp là 1.368m² tại lô 52a, khoảnh 2, tiểu khu B thuộc một phần thửa đất số 94, diện tích 15.700m² tờ bản đồ số 1, bản đồ đất lâm nghiệp (Tờ số 15 (F - 48 - 45 - 222 - (b - IV)) xã N (trong đó có 672,3 m² chồng đè lên thửa đất số 111 tờ bản đồ địa chính xã N) là đất rừng phòng hộ, địa danh Vò Khuốt - N, xã N, tỉnh Cao Bằng.
Buộc các đương sự chấm dứt hành vi tranh chấp quyền sử dụng đất tại vị trí tranh chấp lô 52a, khoảnh 2, tiểu khu B thuộc thửa đất 194, bản đồ GĐLN xã N.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với bản án do Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng, Cụ thể: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị T có đơn kháng cáo đề ngày 09/10/2025 với nội dung: Không nhất trí với bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người chiếm hữu liên tục ngay tình đối với bất động sản, theo đó xác định bà Ma Thị S là người thực tế quản lý, sử dụng ổn định diện tích đất phòng hộ đang tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị T và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án sơ thẩm.
Bị đơn trình bày: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cấp sơ thẩm, không đồng ý với ý kiến của phía nguyên đơn, đồng ý với bản án sơ thẩm.
Hạt kiểm lâm khu vực H, tỉnh Cao Bằng trình bày: Giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Bản đồ địa chính và bản đồ lâm nghiệp được xây dựng phục vụ hai mục tiêu khác nhau nên tiêu chuẩn kỹ thuật, tỉ lệ bản đồ khác nhau dẫn đến sai lệch khi chồng xếp. Hạt kiểm lâm K2 chỉ thực hiện trên bản đồ lâm nghiệp, không quản lý bản đồ địa chính.
Ủy ban nhân dân xã N trình bày: Giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Đồng ý với bản án của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng, đất đang tranh chấp giao cho Ủy ban nhân dân xã N quản lý.
Bà Đàm Thị T2, ông Nông Văn S2, ông Nông Văn H trình bày: Giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm, không có ý kiến bổ sung tại cấp phúc thẩm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về tính hợp pháp của kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giao diện tích đất đang tranh chấp cho Ủy ban nhân dân xã N quản lý là đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới, chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận.
Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 40 ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng.
Kiến nghị với Toà án cấp sơ thẩm vi phạm về thời gian gửi hồ sơ kháng cáo theo quy định tại Điều 283 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và giao nộp chứng cứ, hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm.
Ngày 09/10/2025, Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng nhận được đơn kháng cáo đề ngày 09/10/2025 của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị Tuyết . Kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong thời hạn luật định, nguyên đơn Ma Thị S thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định.
Như vậy đơn kháng cáo là hợp lệ, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Đối với kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng: Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm thời hạn gửi hồ sơ kháng cáo theo quy định tại Điều 283 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm cần xem xét, rút kinh nghiệm.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Đã triệu tập hợp lệ, có đơn xin vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về diện tích đất tranh chấp và nguồn gốc đất tranh chấp:
Diện tích đất hai bên đương sự tranh chấp là lô 52a, khoảnh 2, tiểu khu B có diện tích 1.368m² thuộc một phần thửa đất số 194, diện tích 15.700m² tờ bản đồ số 1, bản đồ đất lâm nghiệp (Tờ số 15 (F - 48 - 45 - 222 - (b - IV)) xã N (trong đó có 672,3 m² chồng đè lên thửa đất số 111 tờ bản đồ địa chính xã N), địa danh V - N, xã N, tỉnh Cao Bằng).
Thửa đất 194 là đất rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã N quản lý theo sổ mục kê đất đai năm 2003.
Hiện trạng trên đất tranh chấp có nhiều cây guột và một số cây keo do ông N trồng từ tháng 4/2022 để khắc phục hậu quả: Buộc trồng lại rừng, theo Quyết định số 07/QĐ-XPHC ngày 25/3/2022 của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện K2 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đàm Hải N có hành vi phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại lô E, khoảnh 2, tiểu khu B - xóm N - V, xã N.
Cả nguyên đơn và bị đơn đều trình bày đất tranh chấp có nguồn gốc từ tổ tiên khai phá để lại, nhưng không có giấy tờ hợp pháp để chứng minh đất thuộc quyền quản lý của mình.
[4] Xét nội dung kháng cáo, căn cứ kháng cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án cả nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do tổ tiên khai hoang từ nhiều thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, các bên không xuất trình được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc bất kỳ giấy tờ hợp pháp nào chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Các lời khai về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất giữa các bên có mâu thuẫn, không thống nhất và không được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ khách quan khác, nên không đủ căn cứ pháp lý để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp thuộc về nguyên đơn.
Tại Công văn số 341/UBND-KT ngày 22/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã N có ghi:
- Thửa đất 111 tờ bản đồ số 14 chủ quản lý trên hồ sơ địa chính là Ủy ban nhân dân xã N; Trên thực tế thửa đất này do bà Ma Thị S, ông Triệu Văn V2, ông Nông Văn S2 quản lý, sử dụng đất.
- Thửa đất số 114 tờ bản đồ số 15 chủ quản lý trên hồ sơ địa chính là Ủy ban nhân dân xã N; Trên thực tế thửa đất này do bà Ma Thị S quản lý, sử dụng đất.
- Thửa đất số 116 và thửa đất số 120, tờ bản đồ số 15 chủ quản lý trên hồ sơ địa chính và thực tế là ông Triệu Văn A quản lý, sử dụng.
- Thửa đất số 194 tờ bản đồ lâm nghiệp xã N cũ, diện tích 15.700m², chủ quản lý trên hồ sơ địa chính là Ủy ban nhân dân xã N; Trên thực tế có ông Đàm Văn S1 (xóm N) và ông S3 đang quản lý sử dụng. Do thửa đất rộng không xác định được ranh giới cụ thể theo bản đồ, do đó Uỷ ban nhân dân xã không xác định được chính xác hết tất cả các hộ gia đình đang quản lý trên thửa đất rừng đó.
Tại Công văn số 15/CV-HKL ngày 16/9/2025 của Hạt kiểm lâm Khu vực H2 án có ghi: Bản đồ địa chính được lập để quản lý đất đai, thể hiện ranh giới thửa đất, quyền sử dụng đất theo Luật đất đai. Bản đồ lâm nghiệp lập để quản lý rừng, đất lâm nghiệp và quy hoạch 3 loại rừng: đặc dụng, phòng hộ, sản xuất theo Luật Lâm nghiệp. Do được xây dựng phục vụ hai mục tiêu khác nhau nên tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ quy chiếu, tỷ lệ bản đồ cũng khác nhau, dẫn đến sai lệch khi chồng xếp. Hiện nay Hạt kiểm lâm khu vực H chỉ thực hiện trên bản đồ lâm nghiệp, không quản lý bản đồ địa chính.
Theo quy định của Luật Đất đai 2024, quyền sử dụng đất chỉ được công nhận khi người sử dụng đất đáp ứng đủ điều kiện theo luật định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập. Xét thấy diện tích đất tranh chấp là đất rừng sản xuất, chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ cá nhân, hộ gia đình nào, theo quy định của Luật Đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đối với đất chưa giao, chưa cho thuê, chưa cấp Giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất có trách nhiệm trực tiếp quản lý theo thẩm quyền. Đại diện Ủy ban nhân dân xã N cũng xác nhận thửa đất tranh chấp hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận cho cá nhân nào và đề nghị giao Uỷ ban nhân dân xã tiếp tục quản lý theo quy định.
Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác định diện tích đất tranh chấp thuộc diện Nhà nước quản lý, giao UBND xã N tiếp tục quản lý là phù hợp với quy định của Luật Đất đai và Bộ luật Tố tụng dân sự, bảo đảm nguyên tắc quản lý thống nhất đất đai của Nhà nước và đúng thẩm quyền.
Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn và phía bị đơn đều không có tài liệu chứng cứ nào khác để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Từ các phân tích nêu trên, có đủ cơ sở để khẳng định kháng cáo của phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xem xét lại toàn bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người chiếm hữu liên tục ngay tình đối với bất động sản, theo đó xác định bà Ma Thị S là người thực tế quản lý, sử dụng ổn định diện tích đất phòng hộ đang tranh chấp là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Tại cấp sơ thẩm, yêu cầu của bà S không được chấp nhận, nên bà S phải nộp chi phí thẩm định, định giá với số tiền 5.920.000 đồng.
[6] Về án phí: Do kháng cáo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Ma Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm để nộp ngân sách nhà nước, tuy nhiên bà Ma Thị S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị Tuyết .
- Về án phí: Bà Ma Thị S được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tô Thị Thuỳ Ngân |
Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 10/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
