Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


Bản án số: 10/2026/DS-PT

Ngày: 07-01-2026

“Tranh chấp đòi lại tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
  • Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt; Ông Nguyễn Chí Dừng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 846/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 148/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 649/2025/QĐ-PT, ngày 28 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 607/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ E, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Số A, T, phường H, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Phạm Thị Mỹ N - sinh ngày 30/12/2003; địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 09/11/2024) và chị Bùi Huỳnh Anh T - sinh ngày 12/06/2002; Địa chỉ: Khóm I, phường M, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 26/9/2025).

- Bị đơn: Chị Huỳnh Kim H, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Số A, Tổ A, ấp T, xã M, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Thị Ú, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1949. Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Chị Huỳnh Kim H, sinh năm 1978 là bị đơn.

(Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; Chị H, bà Ú có mặt tại phiên tòa; Bà C vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, chị Phạm Thị Mỹ N và chị Bùi Huỳnh Anh T đại diện cho chị Trần Thị Mỹ E trình bày như sau:

Từ khoảng năm 2018, bà Trần Thị Kim C (là mẹ nuôi của chị Mỹ E) và bà Huỳnh Kim H có hợp tác làm ăn với hình thức mua vải từ Thành phố Hồ Chí Minh mang về xưởng may của bà C để gia công thảm lau chân. Sau khi gia công xong thì chuyển sản phẩm đến các đại lý để bán và thu tiền.

Trong quá trình hợp tác này, chị Mỹ E có xe tải 2,4 tấn, biển kiểm soát 51C-765.72 do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên quyền sở hữu dùng để phục vụ việc vận chuyển hàng hóa giúp bà C. Sau đó đã cho bà H mượn xe để lái xe đi mua vải và giao thảm lau chân cho các cửa hàng mua thảm.

Tuy nhiên, đến nay thì việc hợp tác làm ăn đã kết thúc nhưng bà H không chịu trả chiếc xe tải 2,4 tấn, biển kiểm soát 51C-765.72 cho chị Mỹ E, thậm chí bà H còn đề nghị trả chị Mỹ E 100.000.000 đồng, sau đó tăng lên 150.000.000 đồng để lấy xe, nhưng chị Mỹ E không đồng ý. Nhận thấy hành vi của bà Huỳnh Kim H đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Mỹ E.

Nay chị Trần Thị Mỹ E yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp xem xét giải quyết buộc chị Huỳnh Kim H phải trả lại chiếc xe tải biển kiểm soát 51C-765.72 do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên quyền sở hữu, đối với giá trị còn lại tại thời điểm xét xử sơ thẩm của chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 thì các đương sự thống nhất là 150.000.000 đồng, không yêu cầu thẩm định giá.

* Bị đơn chị Huỳnh Kim H trình bày như sau:

Vào tháng 10 năm 2016, chị có thỏa thuận hợp đồng (thỏa thuận miệng) làm ăn với bà Trần Thị Kim C (địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp) về việc mua vải vụn thuê công nhân làm thảm lau chân bán kiếm lời tại nhà của bà C, trong quá trình làm ăn thì chị H có nhận lại phần hùn chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 của bà Hồ Thị Ú (sinh ngày: 01/01/1958; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp) với bà Trần Thị Kim C, nhưng xe ô tô này lại do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên sở hữu do trước đây bà Ú và bà C lớn tuổi không vay trả góp được với ngân hàng nên bà Ú và bà C nhờ chị Mỹ E đứng tên để vay trả góp ngân hàng V và hàng tháng chị H phải đóng tiền cho ngân hàng là 5.000.000 đồng, chị H đưa tiền mặt cho ông Vũ Quang T1 là chồng của bà Kim C đi đóng, việc chị đưa tiền cho ông T1 đi đóng Ngân hàng thì có nhiều người biết vì họ là người làm công cho chị H. Tính đến ngày 08/06/2021 thì chị H góp xong chiếc xe ô tô tải 51C-765.72 và chị Mỹ E đã ký tên vào giấy ngân hàng đưa cho chị H đi nhận giấy đăng ký xe ô tô 51C-765.72 và ngân hàng đã giao giấy tờ cho chị H. Từ đó đến nay chị H là người quản lý và sử dụng chiếc xe ô tô tải mà không có ai tranh chấp. Tổng cộng chị H đã góp cho ngân hàng là 358.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu đồng). Nhưng không biết nguyên nhân nào mà chị Trần Thị Mỹ E khởi kiện yêu cầu đòi lại chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 và nói rằng cho chị mượn là không đúng sự thật, chị khẳng định chị Mỹ E là người đứng tên sở hữu dùm cho bà Ú và bà C như ban đầu hai bên đã thỏa thuận.

Nay chị Huỳnh Kim H yêu cầu công nhận quyền sở hữu xe ô tô tải biển số 51C-765.72 là của chị H (hiện nay xe ô tô tải 51C-765.72 do chị H quản lý sử dụng từ đầu năm 2018 đến nay). Buộc chị Trần Thị Mỹ E lập thủ tục chuyển nhượng lại cho chị H giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải 51C-765.72.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H cũng thống nhất giá trị còn lại của chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, chị H không yêu cầu thẩm định giá tài sản. Chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 cùng giấy đăng ký xe hiện chị H đang quản lý.

* Bà Hồ Thị Ú trình bày tại phiên tòa sơ thẩm:

Trước đây giữa bà và bà Trần Thị Kim C có hợp tác gia công thảm lau chân có cơ sở đặt tại nhà bà C, sau đó do nhu cầu vận chuyển hàng hóa nên bà và bà C đã hùn mua chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72; bà không trực tiếp đi mua xe mà giao cho bà C và ông T1 thực hiện toàn bộ thủ tục, lúc đầu bà nghĩ chiếc xe do bà C đứng tên nhưng khi chiếc xe bị công an tạm giữ do vi phạm giao thông trong quá trình lưu thông thì bà mới biết chiếc xe do chị Trần Thị Mỹ E (là con nuôi của bà C) đứng tên, khi hỏi bà C thì mới biết Mỹ E đứng tên dùm nên bà cũng không có ý kiến gì. Việc mua xe thì bà chỉ hùn vốn ban đầu nhưng cũng không xác định bao nhiêu tiền do thời gian đã quá lâu; các khoản tiền góp sau đó thì bà có gửi tiền cho ông T1 góp xe nhưng bao nhiêu lần và tổng số tiền bao nhiêu thì bà không xác định chính xác được, bà C có hùn góp với ai hay không thì bà cũng không xác định được. Trong vụ án này, bà cũng không có yêu cầu gì đối với chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72, đối với số tiền bà đã tham gia góp cũng như số tiền trả trước để mua xe thì bà không có yêu cầu gì trong vụ án này, khi cần thiết thì bà sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

* Bà Trần Thị Kim C trình bày tại văn bản ý kiến ngày 22/8/2025 như sau:

Bà hiện có một xưởng may thảm lau chân Kim Cúc đặt tại nhà riêng, thuộc ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp). Do nhu cầu vận chuyển thảm đến các nơi khác để gia công cho công nhân, cũng như vận chuyển hàng hóa mua bán từ Đồng Tháp lên thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Thấy vậy, con nuôi của bà là Trần Thị Mỹ E đã mua cho bà một chiếc xe tải để phục vụ việc làm ăn. Trong quá trình lựa chọn xe, bà và con bà cùng trực tiếp đi mua và tiến hành soạn thảo hợp đồng tại Công ty Cổ phần T3, địa chỉ: C, quốc lộ C, Khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phường M, tỉnh Đồng Tháp).

Ngày 26/01/2016, do con bà bận công việc tại thành phố Hồ Chí Minh không về được, nên bà là người đứng ra ký hợp đồng mua bán xe và đặt cọc mua xe. Xe được mua theo hình thức trả góp, số tiền góp thay đổi tùy theo yêu cầu của công ty bán xe. Tổng số tiền bao gồm tiền đặt cọc, tiền trả góp, cùng các khoản chi cho linh kiện, trang thiết bị và phụ kiện xe vào khoảng hơn 500.000.000 đồng. Xe tải 2,4 tấn, biển kiểm soát 51C-765,72 do con bà là Trần Thị Mỹ E đứng tên. Bà C khẳng định toàn bộ nguồn tiền mua xe là do con bà gửi về. Không có sự việc bà cùng bà Hồ Thị Ú và bà Huỳnh Kim H hùn tiền mua xe.

Về mối quan hệ với bà Huỳnh Kim H: Khoảng năm 2015, do thiếu nhân công nên bà có thuê bà H nhận vải về nhà gia công thảm lau chân, bà H đồng ý. Đến năm 2018, bà và chị H chuyển sang hình thức hợp tác mua vải từ thành phố Hồ Chí Minh về xưởng của bà để gia công thành thảm lau chân, sau đó phân phối cho các đại lý.

Trong thời gian hợp tác, do bà H không có xe vận chuyển hàng, bà đã cho chị H mượn chiếc xe tải trên để chở hàng hóa. Ban đầu, con bà không biết việc này; sau khi bà nói lại, con bà đồng ý vì cho rằng đây là hỗ trợ cho việc làm ăn chung. Đến năm 2024, hai bên không còn hợp tác sản xuất và gia công thảm, bà yêu cầu chị H trả lại xe cho con bà là Mỹ E nhưng bà H không đồng ý và cũng không trả lại xe. Vì các lẽ trên, bà khẳng định lời trình bày của bà Huỳnh Kim H về việc hùn tiền với bà Hồ Thị Ú và bà để mua xe là hoàn toàn không đúng sự thật. Việc trả góp xe hoàn toàn bằng tiền của con tôi, bà H không đóng góp bất kỳ khoản nào.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ E. Buộc bị đơn chị Huỳnh Kim H phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 163440 do Công an thành phố H cấp ngày 28/4/2016 cho chị Trần Thị Mỹ E. Trường hợp chị Huỳnh Kim H không tự nguyện giao trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe thì chị Trần Thị Mỹ E có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô theo quy định của pháp luật.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Huỳnh Kim H về việc công nhận quyền sở hữu đối với chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 và buộc chị Trần Thị Mỹ E làm thủ tục sang tên cho chị Huỳnh Kim H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: chị H có yêu cầu kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo cũng như đơn phản tố của chị.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc chị Huỳnh Kim H phải trả lại chiếc xe tải biển kiểm soát 51C-765.72 và giấy tờ xe do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên quyền sở hữu.

- Bị đơn là chị H không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm theo hướng buộc chị Huỳnh Kim H phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 163440 do Công an thành phố H cấp ngày 28/4/2016 cho chị Trần Thị Mỹ E.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Mỹ E đối với bị đơn là chị Huỳnh Kim H về việc buộc chị H phải trả lại chiếc xe tải biển kiểm soát 51C-765.72 do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên quyền sở hữu nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn là chị H không đồng ý với toàn bộ quyết định bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

- Xét yêu cầu kháng cáo của chị H về việc không đồng ý trả lại chiếc xe tải biển kiểm soát 51C-765.72 do chị Trần Thị Mỹ E đứng tên quyền sở hữu. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Thứ nhất, chị H cho rằng hàng tháng đều gửi tiền cho ông Vũ Quang T1 hùn để góp cho chiếc xe; nhưng do tin tưởng nên chị H không có yêu cầu ông T1 viết biên nhận. Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành lấy lời khai của ông Vũ Quang T1 nhưng ông T1 không thừa nhận có nhận tiền của chị H mà chỉ thừa nhận có nhận tiền của chị M Em gửi để ông tới Ngân hàng hàng đóng tiền góp của chiếc xe nói trên dùm cho Mỹ E. Nên lời trình bày này của chị H là không có chứng cứ để chứng minh.

Thứ hai, chị H cho rằng chị Mỹ E là người đứng tên dùm; nhưng khi chị H góp xong hết số tiền của chiếc xe như chị H trình bày thì chị H cũng không có lần nào yêu cầu bên chị Mỹ E sang tên chủ sở hữu chiếc xe lại cho chị; Hội đồng xét xử xét thấy việc chị H cho rằng chị M Em đứng tên dùm là không hợp lý.

Thứ ba, chị H cho rằng trước đây chiếc xe này do bà Ú và bà C hùn mua, bà Ú có góp được 6 tháng thì sang lại cho chị, chị trả tiền cho bà Ú xong rồi góp tiếp cho Ngân hàng nhưng tại phiên toà phúc thẩm thì bà Hồ Thị Ú cho rằng bà có góp được 6 tháng và cũng bằng hình thức gửi tiền cho ông T1 (chồng bà C) góp nên về chứng cứ để chứng minh thì bà Ú cũng không cung cấp được, hiện nay chị H cũng chưa trả lại cho bà 6 tháng tiền mà bà đã góp. Như vậy, lời trình bày của bà Ú, cũng như chị H là không có cơ sở để chấp nhận.

Thứ tư, chị H cho rằng đã góp nhiều lần và tổng cộng số tiền góp cho chiếc xe là 356.000.000đ (bút lục 70); nhưng tại đơn phản tố (ở bút lục G) thì chị H cho rằng đã góp được số tiền 358.000.000đ; Nhưng chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu phản tố thì chị H không cung cấp được. Theo hồ sơ thể hiện toàn bộ lai thu tiền góp cho chiếc xe (bản chính) thì đều do chị Mỹ E cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.

Thứ năm, chị H cho rằng do là xe chị góp nên chị đang quản lý chiếc xe và giấy xe chị đang giữ. Lời trình bày này của chị H chưa đủ cơ sở để chứng minh mình chiếc xe nói trên thuộc quyền sở hữu của chị. Bởi vì, chị H cũng thừa nhận nhận trong quá trình làm ăn cùng với bà C thì bà C giao cho chị phụ trách trong việc chuyển hàng hoá lên Thành Phố và con chị (tên T2) là tài xế nên việc chủ xe giao giấy tờ xe cho bên chị giữ để lưu thông trên đường cũng là điều hợp lý.

Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất với kết quả tại biên bản xem xét hiện trạng của chiếc xe và thống nhất với giá mà hai bên đã thoả thuận về giá trị còn lại của chiếc xe tại cấp sơ thẩm; không yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, định giá lại.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mỹ E là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm, chị H cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp.

Tại phiên toà phúc thẩm, chị H nại ra việc con chị tên là T2 có đóng tiền góp xe lần cuối với số tiền là 4.500.000đ. Tại phiên toà, bên nguyên đơn cũng thống nhất trả lại số tiền này cho anh T2, nếu anh T2 có yêu cầu và cung cấp được giấy nộp tiền bản chính. Nhưng phía chị H tại phiên toà chưa cung cấp được; vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong vụ án này; nếu sau này anh T2 có yêu cầu thì được giải quyết bằng 1 vụ án khác.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện V1 trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm. Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên chị H phải chịu án phí phúc thẩm.

Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 158, Điều 159, Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Huỳnh Kim H.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 148/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Tháp.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ E.

Buộc bị đơn chị Huỳnh Kim H phải có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 163440 do Công an thành phố H cấp ngày 28/4/2016 cho chị Trần Thị Mỹ E.

Trường hợp chị Huỳnh Kim H không tự nguyện giao trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe thì chị Trần Thị Mỹ E có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô theo quy định của pháp luật.

- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Huỳnh Kim H về việc công nhận quyền sở hữu đối với chiếc xe ô tô tải biển số 51C-765.72 và buộc chị Trần Thị Mỹ E làm thủ tục sang tên cho chị Huỳnh Kim H.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Huỳnh Kim H phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu của chị Trần Thị Mỹ E được chấp nhận và chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu phản tố của chị H không được chấp nhận với tổng số tiền là 7.800.000 (bảy triệu, tám trăm nghìn) đồng (trong đó, 7.500.000 đồng là án phí có giá ngạch và 300.000 đồng là án phí không có giá ngạch). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001095 của Chi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị H còn phải nộp tiếp số tiền là 7.500.000 (bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng.

- Hoàn trả cho nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo biên lai số 0001838 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh; nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Đồng Tháp.

3.Về án phí phúc thẩm:

Chị Huỳnh Kim H phải chịu 300.000đ tiền án phí phúc thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004278, ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- Phòng GĐ,KT ,TT và THA TAND Tỉnh;

- VKSND Tỉnh;

- TAND Khu vực 9 – Đồng Tháp

- Phòng THADS Khu vực 9 – Đồng Tháp;

- Đương sự;

- Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 10/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger