TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 12 - 2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thuý
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Hữu Hưởng
- Ông Hà Văn Sơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Quàng Văn K, sinh ngày 19/6/1973. Số căn cước công dân: 0140, ngày cấp: 25/6/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản P, xã C, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Quàng Thị S, sinh ngày 01/01/1974. Số căn cước công dân: 0141, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản P, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 9 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Quàng Văn K trình bày như sau:
Anh và chị Quàng Thị S kết hôn với nhau từ năm 1996 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) theo quy định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/01/1996. Anh chị đã được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 28 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai anh chị bất đồng về quan điểm sống, chị S đã bỏ đi từ ngày 13/6/2024 cho đến nay. Anh K được biết chị S hiện đi làm công nhân ở tỉnh khác nhưng không rõ địa chỉ. Gia đình đã nhiều lần hoà giải cho hai anh chị nhưng chị S không quay lại sống chung với anh K. Hai anh chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay. Nay anh K xác định tình cảm vợ chồng với chị S đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Quàng Thị S.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Quàng Văn Y, sinh ngày 16/01/2000; Quàng Văn H, sinh ngày 01/9/2001 và Quàng Thị X, sinh ngày 27/12/2003. Các con chung của anh chị đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh tại phiên tòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã đến địa phương nơi cư trú của chị Quàng Thị S để thực hiện tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng. Do chị S thường xuyên không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên công khai tài liệu chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho chị S. Tuy nhiên, chị S vẫn vắng mặt không có lý do.
Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của anh Quàng Văn K và chị Quàng Thị S với ông Quàng Văn V (bố đẻ chị S); ông Cà Văn S1 (trưởng bản Phang Hụm Có, xã C, tỉnh Sơn La) và ông Vì Văn T (trưởng bản B, xã C, tỉnh Sơn La). Ông V, ông S1 và ông T đều xác nhận anh Quàng Văn K, chị Quàng Thị S tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La (cũ) theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị S chuyển về sinh sống với gia đình nhà chồng tại bản Phang Hụm Có, xã C, tỉnh Sơn La.
Về mâu thuẫn của anh K và chị S là do chị S có mối quan hệ tình cảm với người khác nên đã bỏ đi tỉnh khác để làm thuê. Chị S không cho ai biết địa chỉ cư trú hiện tại, nhưng chị S vẫn thường xuyên gọi điện cho bố mẹ đẻ và thi thoảng có về thăm.
Việc anh K xin ly hôn chị S đã được biết. Các thông báo của Toà án có thể gửi ông V để ông V thông báo qua điện thoại cho chị S biết.
Do chị Quàng Thị S không có mặt, không có ý kiến cụ thể về việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.
Sau khi chủ toạ công bố đơn xin xét xử vắng mặt của anh Quàng Văn K, lý do vắng mặt của chị Quàng Thị S và công bố tóm tắt nội dung vụ án, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn không thực hiện các quyền của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng:
- Về hôn nhân: Xử cho anh Quàng Văn K được ly hôn với chị Quàng Thị S.
- Về con chung: Anh K, chị S có 03 con chung là Quàng Văn Y, sinh ngày 16/01/2000; Quàng Văn H, sinh ngày 01/9/2001 và Quàng Thị X, sinh ngày 27/12/2003 đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc anh Quàng Văn K không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Anh Quàng Văn K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của anh Quàng Văn K về việc xin ly hôn với chị Quàng Thị S. Anh K đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án thì Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp ly hôn là đúng quy định của pháp luật.
Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
[2.1] Về hôn nhân:
Anh Quàng Văn K và chị Quàng Thị S tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 1996, anh chị đã được UBND thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/01/1996. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 28 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Anh K cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do hai anh chị bất đồng về quan điểm, lối sống. Hai anh chị đã được gia đình hoà giải nhưng không thành; hai anh chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay. Anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai anh chị không thể tiếp tục chung sống nên có nguyện vọng xin ly hôn với chị Quàng Thị S. Hội đồng xét xử xét thấy anh K và chị S sống ly thân trong thời gian dài, không còn tình cảm với nhau, tình trạng hôn nhân của hai anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa anh Quàng Văn K và chị Quàng Thị S.
[2.2] Về con chung:
Anh K và chị S có 03 con chung là Quàng Văn Y, sinh ngày 16/01/2000; Quàng Văn H, sinh ngày 01/9/2001 và Quàng Thị X, sinh ngày 27/12/2003. Các con chung của anh chị đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:
Do chị Quàng Thị S không có yêu cầu cụ thể, anh Quàng Văn K không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[2.4] Về án phí:
Anh Quàng Văn K không thuộc các trường hợp được miễn, giảm án phí nên căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;
- Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Quàng Văn K và chị Quàng Thị S.
- Về con chung: Anh K, chị S có 03 con chung là Quàng Văn Y, sinh ngày 16/01/2000; Quàng Văn H, sinh ngày 01/9/2001 và Quàng Thị X, sinh ngày 27/12/2003 đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc anh Quàng Văn K không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung vợ chồng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
- Về án phí: Anh Quàng Văn K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu Tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000305 ngày 07 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phương Thúy |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn giữa anh Quàng Văn K và chị Quàng Thị S
