Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HS-PT

Ngày: 09/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh H - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 210/2025/TLPT-HS ngày 11/11/2025 đối với các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B do có kháng cáo của các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Lường Văn H1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản C, xã T, tỉnh Điện Biên); nơi ở trước khi phạm tội: Số A L, phường V, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn P, sinh năm 1976 và bà Lường Thị B1, sinh năm 1978; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Lò Thị K, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2022;

    Tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 16/10/2024, bị cáo bị Công an huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp phạt xong.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an tỉnh B (có mặt).

    * Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn H1:

    - Bà Nguyễn Thị H2 – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

    Địa chỉ: số G, N, phường K, tỉnh Bắc Ninh.

    - Bà Nguyễn Thị C – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Tiến B, sinh ngày 02/12/2006; nơi cư trú: Thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn H, xã X, tỉnh Thanh Hóa); nơi ở trước khi phạm tội: Số A L, phường V, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1984 và bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1986; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an tỉnh B (có mặt).

    * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B: Luật sư Nguyễn Thị H2 – Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

    Địa chỉ: số G, N, phường K, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Hoàng Văn H3 và Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 05/5/2025, tại tầng 1 phòng 101 quán karaoke D KTV tại số A L, phường V, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường V bắt quả tang Lường Văn H1 và Hoàng Văn H3 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Trịnh Thị Thanh Y, sinh năm 2005, HKTT: Thôn T, xã H, tỉnh Nghệ An sử dụng. Ngoài ra, tại phòng 101 còn có Ma Thị D1, sinh năm 2005, HKTT: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang.

Thu giữ vật chứng:

- Thu trên mặt bàn trong phòng có 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa màu vàng có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 bật lửa màu đỏ. Lực lượng công an đã tiến hành niêm phong các vật chứng trên vào 01 túi nilong màu trắng theo quy định.

- Tạm giữ của H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax màu xanh (đã qua sử dụng), có số imei 350280672731530, lắp sim số 0917.888.11.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Hoàng Văn H3 khai nhận chất tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ, thẻ nhựa và tờ tiền 20.000 đồng là chất ma túy loại ketamine, do H3 mua của Nguyễn Văn T vào rạng sáng ngày 05/5/2025 tại chung cư C thuộc phường V, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, H1 và H3 còn khai nhận, ngoài H1, H3 và Y, còn có Nguyễn Hoàng Tiến B cũng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 101 quán karaoke D KTV vào rạng sáng ngày 05/5/2025.

Lực lượng công an đã tiến hành xác minh, triệu tập Nguyễn Văn T, Nguyễn Hoàng Tiến B lên làm việc. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/5/2025, Nguyễn Hoàng Tiến B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H1, H3.

Hồi 14 giờ ngày 05/5/2025, Nguyễn Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Ketamine cho H3, đồng thời giao nộp:

- 02 túi nilong màu trắng, trong đó: 01 túi nilong có chứa 04 túi nilong màu trắng gồm 03 túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi chứa 05 viên nén màu xanh; 01 túi nilong có chứa chất tinh thể màu trắng. Lực lượng công an đã tiến hành niêm phong các túi nilong trên vào phong bì thư ký hiệu T1.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A05 màu trắng (máy đã qua sử dụng) có số imei 350280672731530, lắp sim số 0896.430.406.

Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nước tiểu đối với H1, Huyện „ D1, B, T. Kết quả: H1, Huyện „ T, Y dương tính với ma túy; Dẫn âm tính với ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T ở phòng 1309 CT1, Chung cư C TNT thuộc khu H, phường V, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả khám xét: Không thu giữ tài liệu, đồ vật nào liên quan đến hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại thu giữ của H3 và T. Kết quả kiểm tra:

+ Tại ứng dụng Zalo trên điện thoại thu giữ của H3 (đăng nhập bằng số tài khoản Zalo tên "H", đăng ký bằng số điện thoại 0917.888.111) có lưu tài khoản Zalo tên “A Thụy” của T. Tại phần trò chuyện có các tin nhắn, cuộc gọi giữa tài khoản "Hoàng Huyện" và "A T1". H3 khai nhận đây là các tin nhắn, cuộc gọi để giao dịch mua bán ma túy với T1.

+ Kiểm tra ứng dụng Zalo trên điện thoại thu giữ của T1 (đăng nhập bằng số tài khoản Zalo tên “Buồn Cười”, đăng kí bằng số điện thoại 0896.430.406) có lưu tài khoản Zalo tên “Huyen” của H3. Không phát hiện lịch sử trò chuyện giữa hai tài khoản trên. T1 khai nhận đã xoá các nội dung cuộc gọi, tin nhắn với H3.

Ngày 05/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ tại phòng 101 quán karaoke D KTV và số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T.

Tại Kết luận giám định số 1011/KL-KTHS ngày 07/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

"+ Chất bột màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 VNĐ (niêm phong trong 01 túi nilong màu trắng) gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Ketamine. Không xác định được khối lượng;

+ 05 viên nén màu xanh bên trong phong bì thư ký hiệu T1 có khối lượng 1,5180 gam; Là ma túy; Loại ma túy: MDMA.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu T1 có khối lượng 2,0026 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine

Ketamine và MDMA là các chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất"

Căn cứ lời khai của các bị can và chứng cứ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thu thập có trong hồ sơ, xác định:

Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B là nhân viên tại quán karaoke "Diễm KTV" tại số A đường L, phường V, tỉnh Bắc Ninh, do bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1975, HKTT: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh là chủ quán. H1 là quản lý, có trách nhiệm nhận khách, tính tiền, B là nhân viên phục vụ tại quán, cả hai đều ăn, ngủ, nghỉ tại quán và có trách nhiệm trông coi quán vào buổi tối. Lường Văn H1 và Hoàng Văn H3 là bạn bè quen biết xã hội với nhau.

Khoảng 00 giờ ngày 05/5/2025, H1, H3 và B cùng uống rượu trên đường H, phường V, tỉnh Bắc Ninh. Trong lúc uống rượu, H1 bảo H3 "Tý về làm tý chứ anh?". Huyện hiểu ý H1 rủ H3 sau khi uống sau thì về quán D2 để sử dụng ma túy. Huyện trả lời "Thế nào cũng được, nếu chơi thì cùng nhau góp tiền", tức là H3 đồng ý sử dụng ma túy cùng với H1 nhưng H1 phải góp tiền với H3 để mua ma túy về sử dụng. H1 đồng ý và đưa cho H3 500.000 đồng để góp tiền cùng mua ma túy. Bính nghe thấy H1 và H3 nói chuyện với nhau và nhìn thấy H1 đưa tiền cho H3 thì hiểu là H1 và H3 cùng góp tiền để mua ma túy sử dụng tại quán D2. Cả nhóm uống rượu đến khoảng hơn 03 giờ cùng ngày thì rủ nhau về quán D2 và vào phòng 101 ở tầng 1 của quán. Khi vào trong phòng, H1 lấy ra 01 túi nilong, bên trong có chứa 02 mảnh viên nén màu xám là ma túy MDMA. Đây là túi ma túy H1 nhặt được vào khoảng thời gian cách đây đã lâu (H1 không nhớ thời gian cụ thể) sau khi dọn dẹp phòng hát của khách, biết là ma túy dạng "kẹo" nên H1 đã cất giấu để sử dụng cho bản thân. H1 đưa túi ma túy cho H3 và B mời H3 và B sử dụng nhưng B không sử dụng, còn H3 thì cầm lấy 01 mảnh viên nén trong túi H1 đưa và tự sử dụng bằng cách uống trực tiếp vào cơ thể. Sau đó, H3 ra ngoài để đi mua ma túy ketamine, còn H1 bảo B đi ra ngoài quầy lễ tân ở sảnh của quán lấy đĩa sứ và thẻ nhựa vào để làm dụng cụ sử dụng ma túy. B đồng ý và đi lấy 01 đĩa sứ màu trắng trên tủ và 01 thẻ nhựa màu vàng có sẵn trên quầy mang vào phòng số 101, sau đó để lên mặt bàn. Lúc này, H3 gọi điện từ tài khoản Zalo "Hoàng Huyện" của H3 đến tài khoản Z "Buồn Cười" của Nguyễn Văn T và bảo T bán cho H3 01 chỉ ma túy ketamine. T đồng ý, báo giá 01 chỉ ma túy ketamine có giá 1.300.000 đồng và hẹn H3 đến khu vực trước cửa chung cư C TNT thuộc phường V, tỉnh Bắc Ninh để lấy ma túy. H3 đồng ý và đi bộ từ quán D2 đến khu vực chung cư C. Tại đây H3 gặp và đưa cho T số tiền 1.300.000 đồng (trong đó 800.000 đồng của tiền của H3, còn 500.000 đồng là tiền H1 đưa H3 trước đó), gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. T cầm tiền và đưa lại cho H3 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy ketamine. Huyện biết đây là ma túy cần mua nên cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi bộ về quán D2. Khi về đến quán, H1 ra mở cửa cho H3 vào phòng 101. Tại đây, H3 hỏi H1 "Có biết xào ke không?", H1 bảo Huyện " xào đi", H3 bảo H1 hơ đĩa, H1 đồng ý và cầm lấy 01 đĩa sứ trên bàn rồi dùng bật lửa ga màu đỏ của H1 hơ nóng phía dưới đĩa sứ. Sau khi hơ nóng đĩa, H1 đưa đĩa sứ và 01 thẻ nhựa màu vàng cho H3. Huyện lấy túi nilong chứa ma túy ketamine vừa mua được ở trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra rồi đổ hết chất tinh thể màu trắng trong túi lên mặt đĩa, sau đó dùng thẻ nhựa màu vàng "xào ke" và chia nhỏ ma túy thành các đường kẻ để sử dụng. Sau khi xào xong, do chưa có ống hút để sử dụng ma túy nên H1 hỏi Huyện " có tiền mặt không", H3 bảo có và đưa cho H1 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng của H3. H1 nhận và cuốn tờ tiền thành dạng ống hút. Sau đó H1 đưa ống hút vừa cuốn cho H3, H3 cầm lấy ống hút và sử dụng ma túy ketamine trên đĩa bằng cách hít chất tinh thể màu trắng trên đĩa vào cơ thể. Sử dụng xong, H3 đưa cho H1 sử dụng, tiếp đến là B sử dụng. Sau khi cả ba sử dụng xong ma túy thì ngồi uống bia và hát. Một lúc sau, B lên tầng 7 của quán D2 là phòng nghỉ của nhân viên để ngủ, còn H3 và H1 vẫn ở phòng 101.

Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, H1 gọi Trịnh Thị Thanh Y và Ma Thị D1 đến quán D2 để phục vụ hát và uống bia. Y đến quán trước, khi Y đến quán thì thấy trong phòng 101 có H1 và H3 đang ngồi hát. Tại đây, H1 đưa Y 01 mảnh viên nén màu xám và mời Y sử dụng, Y biết đây là ma túy kẹo nên đồng ý và cầm lấy 01 mảnh viên nén và tự sử dụng bằng cách uống vào cơ thể. Sau đó, H3 đưa cho Y đĩa sứ màu trắng, trên đĩa có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy ketamine và mời Y sử dụng. Y đồng ý, cầm lấy ống hút được cuốn bằng tờ tiền 20.000 đồng và sử dụng ma túy trên đĩa bằng cách hít vào cơ thể. Đến khoảng 6 giờ cùng ngày thì D1 đến. H1 gọi B đang ngủ ở trên tầng 7 xuống mở cửa cho Dẫn. B xuống mở cửa cho D1 rồi đưa D1 đến phòng 101, sau đó B tiếp tục lên tầng 7 để ngủ. Khi D1 vào phòng thì thấy trong phòng có H1, Huyện, đang sử dụng ma túy trong phòng, D1 tiến đến ngồi cạnh H1. Thấy vậy, H1 đưa đĩa chứa ma túy ketamine cho D1 mời D1 sử dụng nhưng D1 không sử dụng. Cả bốn người ngồi hát đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy T bán cho H3 và số ma túy T tự nguyện giao nộp khi đầu thú, T khai nhận số ma túy trên là do T mua của một người đàn ông không quen biết vào khoảng 20 giờ ngày 04/5/2025 tại cổng công ty M thuộc phường V, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.000.000 đồng để bán kiếm lợi nhuận. Số ma túy trên T mới bán cho H3 01 túi nilong chứa ma túy ketamine, số còn lại T vẫn cất giấu trên người, mục đích ai hỏi mua sẽ bán kiếm lợi nhuận. Ngoài ra T chưa sử dụng hay bán cho ai khác.

Tại Bản Cáo trạng số 55/CT-VKSKV6 ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố các bị cáo Lường Văn Hùng, Hoàng Văn Huyện và Nguyễn Hoàng Tiến B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:

“Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Lường Văn H1, Hoàng Văn H3);

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B);

Căn cứ vào khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Văn T);

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329, 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố các bị cáo Lường Văn H1, Hoàng Văn H3 và Nguyễn Hoàng Tiến B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lường Văn H1 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Xử phạt: Hoàng Văn H3 08 (T2) năm 04 (B2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng Tiến B 07 (Bảy) năm 07 (B3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2025 để đảm bảo thi hành án.”

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/10/2025, các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lường Văn H1 giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh. Bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới tại cấp phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B trình bày: Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì về tội danh. Gia đình bị cáo có nộp bổ sung bản sao Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam và bản sao Giấy chứng nhận Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Hoàng Thị B4 (bà ngoại của bị cáo); Quyết định hưởng trợ cấp một lần đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ông Nguyễn Tiến C1 (ông nội bị cáo); xác nhận của UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã X, tỉnh Thanh Hóa) về việc bị cáo B - con ông Nguyễn Tiến S có thân nhân tốt, năm 2022 đã cứu giúp một cháu bé bị đuối nước; biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đánh giá các tình tiết giảm nhẹ mới để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 –Bắc Ninh.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Lường Văn H1);

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B);

Tuyên bố các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lường Văn H1 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng Tiến B 07 (Bảy) năm 07 (B3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận. Bị cáo Lường Văn H1 được miễn án phí hình sự phúc thẩm do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

* Luật sư Nguyễn Thị H2 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo H1 và bị cáo B: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lường Văn H1 mặc dù không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nhưng mức hình phạt 8 năm 6 tháng tù là nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo H1. Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B có nhân thân tốt, xuất trình được nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, chưa được xem xét tại cấp phúc thẩm. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Lường Văn H1 và bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B nhất trí với quan điểm của Luật sư bào chữa, không tranh luận gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi tranh luận giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Bị cáo H1 nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo B nói lời sau cùng: Bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về tội danh xét xử đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đủ cơ sở xác định: Rạng sáng ngày 05/5/2025, tại phòng 101 tầng 1 quán D2 thuộc số A L, phường V, tỉnh Bắc Ninh do bà Nguyễn Thị V là chủ quán, Lường Văn H1, Hoàng Văn H3 và Nguyễn Hoàng Tiến B có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, H3 và H1 còn có hành vi tổ chức cho Trịnh Thị Thanh Y sử dụng ma túy. Cụ thể: H1, B là người cung cấp địa điểm (phòng 101 quán karaoke D KTV) để mọi người sử dụng ma túy, H1 và H3 cùng góp tiền để H3 đi mua ma túy Ketamine, B là người lấy đĩa sứ và thẻ nhựa để làm dụng cụ sử dụng ma túy, H1 sử dụng bật lửa hơ nóng đĩa, H3 sử dụng thẻ nhựa để "xào ke, chỉ kẻ" mời H1, B, Y sử dụng. Ngoài ra, H1 còn cung cấp ma túy tổng hợp dạng "kẹo" là ma túy MDMA mời Huyện, Y sử dụng. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã tự nguyện đầu thú về hành vi bán trái phép ma túy ketamine cho H3 và giao nộp 2,0026 gam ma túy ketamine, 1,5180 gam ma túy MDMA là ma túy T cất giấu để bán kiếm lợi nhuận.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo không những sử dụng ma túy cho bản thân mà còn lôi kéo, tổ chức cho những người khác cùng sử dụng ma túy. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 –Bắc Ninh xét xử các bị cáo Lường Văn H1, Hoàng Văn H3 và Nguyễn Hoàng Tiến B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  4. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Lường Văn H1 có nhân thân xấu, ngày 16/10/2024, Công an huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp phạt xong.

  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo B sau khi phạm tội đã tự nguyện ra cơ quan Công an đầu thú nên bị cáo B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  7. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xử phạt bị cáo Lường Văn H1 08 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B 07 năm 07 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

  8. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lường Văn H1: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo H1 không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác; không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lường Văn H1.

  9. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B: Bị cáo B tác động đến gia đình nộp án phí hình sự sơ thẩm và cung cấp biên lai nộp án phí cho Tòa án; đây không được xác định là tình tiết giảm nhẹ mới mà thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo B. Ngoài ra, gia đình bị cáo B có cung cấp bản sao Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam và bản sao Giấy chứng nhận Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Hoàng Thị B4 (bà ngoại của bị cáo); Quyết định hưởng trợ cấp một lần đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ông Nguyễn Tiến C1 (ông nội bị cáo); xác nhận của UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã X, tỉnh Thanh Hóa) về việc bị cáo B - con ông Nguyễn Tiến S có thân nhân tốt, năm 2022 đã cứu giúp một cháu bé bị đuối nước. Đây được xác định là các tình tiết giảm nhẹ mới, chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  10. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  11. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Lường Văn H1 là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  12. Cần tạm giam các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  13. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lường Văn H1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 –Bắc Ninh đối với bị cáo Lường Văn H1.

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lường Văn H1 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 –Bắc Ninh về hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B.

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B 07 (Bảy) năm 04 (B2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/5/2025.

  3. Căn cứ Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Quyết định tạm giam các bị cáo Lường Văn H1 và Nguyễn Hoàng Tiến B 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tiến B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lường Văn H1.

  5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng HSNV - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao;
  • - VKS, TA Khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Bắc Ninh
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2026/HS-PT ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn H và đồng phạm - TCSDTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger