Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 09/2026/HNGĐ -PT
Ngày: 10-02-2026
“Tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Nguyễn Chí Dừng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh: Bà Phan Thị Thanh Xuân- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 10 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tỉnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 79/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 09 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 285/2026/QĐPT-HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 188/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Ngọc C sinh ngày 16/11/1994.

Địa chỉ: ấp T, xã C, tỉnh Vĩnh Long

- Bị đơn: Anh Trần Văn N ngày 10/7/1995.

Địa chỉ: số D, tổ C, ấp M, xã H, tỉnh Đồng Tháp

Người tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Văn D luật sư của Văn phòng luật sư Trần Văn D1 Đoàn luật sư T

-Người kháng cáo: Anh Trần Văn N1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Mai Thị Ngọc C1 bày:

Chị và anh N2 quen biết nhau vào khoảng năm 2022, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 07/6/2023 tại Ủy ban nhân dân xã H đầu sống hạnh phúc nhưng gần đây giữa chị và anh N3 sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường hay cãi nhau chủ yếu do anh N4 uống rượu say xỉn về kiếm chuyện chửi chị vô cớ, đập phá đồ đạc trong nhà, đe doạ hành hung chị làm cho tinh thần chị luôn trong trạng thái lo sợ, bất an. Do đó khoảng tháng 02/2025 chị về nhà cha mẹ ruột sống. Chị nhận thấy tình cảm với anh Nkhông thể hàn gắn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh N

Con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản hoà giải ngày 29/7/2025 và tại phiên toà chị C1 bày: Chị xác định không còn tình cảm với anh N5 kiên quyết ly hôn. Về con chung không có. Về tài sản chung có 10 chỉ vàng 24Kr (vàng cưới) và 04 chỉ vàng 18Kr, hiện tài sản chị đang giữ nhưng để vợ chồng tự thoả thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung không có.

* Bị đơn anh Trần Văn N6 tờ tự khai trình bày:

Anh và chị C2 nhau từ tháng 5/2023, cưới ngày 12/6/2023, sống chung từ tháng 5/2023 đến ngày 01/5/2025 rất hạnh phúc. Hai năm chung sống anh không hề chửi bới, đánh đập hay xúc phạm vợ, gia đình vợ. Anh vẫn thương yêu vợ, chia sẻ công việc nhà, tiền lương đưa chị C3 hết. Sáng ngày 01/5/2025 vợ chồng có cự cãi một hai câu xong, anh vẫn đi làm bình thường, sáng ngày 17/5/2025 anh làm về thấy chị C4 về nhà mẹ, anh có xuống năn nỉ thì bị mẹ vợ và em vợ chửi, đuổi về. Anh còn rất thương vợ không đồng ý ly hôn.

Về tài sản chung: Ngày cưới cha mẹ anh cho 10 chỉ vàng 24Kr, anh chị hai anh cho 2,5 chỉ vàng 24Kr, bên vợ cho 2,5 chỉ vàng 24Kr, chị hai cho 5.000.000đồng. Quá trình chung sống anh mua cho chị C02 chiếc vòng 02 chỉ vàng 18Kr, chị C5 02 chiếc vòng 02 chỉ vàng 18Kr. Lương anh từ tháng 6/2023 đến tháng 5/2025 là 265.020.000đồng, đã chuyển khoản cho chị C6 lần số tiền 190.683.000 đồng, rút tiền mặt 60.100.000 đồng đưa chị C3 hết. Lương chị C8.000.000đồng/ tháng. Nếu trường hợp Toà án cho ly hôn anh yêu cầu chia tài sản theo tỉ lệ đóng góp vì công sức anh đóng góp nhiều hơn chị C

Nợ chung không có.

Tại biên bản hoà giải ngày 29/7/2025 anh N7 bày: Về tài sản chung có 15 chỉ vàng 24Kr (vàng cưới) và 04 chỉ vàng 18Kr, 452.000.000 đồng tiền mặt, hiện tài sản chị C7 giữ. Chị C8 ly hôn thì đem tiền, vàng ra chia thì anh mới ly hôn, không thì anh yêu cầu Toà án đưa ra xét xử.

Tại phiên toà, anh N7 bày còn thương vợ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị CVề tài sản chung có 15 chỉ vàng 24Kr (vàng cưới) và 04 chỉ vàng 18Kr, tiền anh chuyển khoản cho chị C9 190.683.000 đồng, tiền mặt anh đưa chị C9 60.100.000 đồng, anh yêu cầu chia đôi nếu Toà án cho ly hôn. Con chung, nợ chung không có.

- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Mai Thị Ngọc C

  1. Về hôn nhân: Cho chị Mai Thị Ngọc C10 hôn với anh Trần Văn N1
  2. Về con chung: Không có.
  3. Tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Nợ chung: Không có.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, anh N8 đồng ý toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo về việc hôn nhân, về chia tài sản chung. Anh N yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng hủy án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

- Anh N giữ nguyên nội dung kháng cáo;

- Người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh N7 bày và đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để xem xét yêu cầu chia tài sản chung của anh N9 cùng vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N. Giữ nguyên nội dung quyết định của bản án sơ thẩm về việc ly hôn; Còn về tài sản chung nếu anh N10 yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Ngọc C11 với anh Trần Văn N11 Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm anh N không đồng ý với một phần quyết định bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa anh Nđề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị C12 nếu chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C13 phải giải quyết về vấn đề tài sản chung.

+ Xét yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn N1 về việc không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Chị C14 anh N12 đến hôn nhân năm 2023 trên cơ sở có sự tìm hiểu nhau trước và có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 02/2025. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị C15 định không còn tình cảm với anh N5 kiên quyết ly hôn mặc dù đã được Toà án hoà giải nhiều lần. Đối với anh N8 đồng ý ly hôn nhưng anh N8 đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N13 chị C đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C9 phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Xét yêu cầu kháng cáo của anh N14 việc yêu cầu chia ½ tài sản chung gồm có 15 chỉ vàng 24Kr (vàng cưới) và 04 chỉ vàng 18Kr, tiền anh chuyển khoản cho chị C9 190.683.000 đồng, tiền mặt anh đưa chị C9 60.100.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 27/6/2025, anh N10 gửi đơn phản tố yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm phân chia số tài sản chung của vợ chồng nhưng do đơn phản tố chưa ghi rõ tổng số vàng và tiền cần chia (bút lục 22);

Ngày 27/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp) ra thông báo số 06/TB-TA về việc yêu cầu anh N15 đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Tuy nhiên anh N8 sửa đổi, bổ sung đơn (bút lục 23-24).

Ngày 10/7/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp ra thông báo số 01/TB-TA về việc trả lại đơn khởi kiện (phản tố) cho anh N13 đã được tống đạt hợp lệ và anh N8 có khiếu nại về vấn đề trên (bút lục 28-29).

Do đó, xem như anh N chưa yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung theo qui định nên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

Từ những phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về vấn đề ly hôn.

Các phần còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N nên anh N phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Xét lời trình bày và đề nghị của người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích cho anh N16 chưa phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lời trình bày và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật HNGĐ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn N1;
  2. Giữ nguyên phần quyết định bản án sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Đồng Tháp.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Mai Thị Ngọc C

  • Về hôn nhân: Chị Mai Thị Ngọc C16 ly hôn với anh Trần Văn N1
  • Về con chung: Không có.
  • Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  • Nợ chung: Không có.
  • Về án phí sơ thẩm: Chị Mai Thị Ngọc C phải 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001853 ngày 12/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
  • Về án phí phúc thẩm: Anh N phải chịu 300.000đ tiền án phí phúc thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0004179 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
- Phòng GĐ- KT-TT và THA TAND Tỉnh;
- VKSND Tỉnh;
- TAND Khu vực 5 - Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vực 5 - Đồng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Võ Trinh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 09/2026/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y ÁN MAI THỊ NGỌC CHÂU - TRẦN VĂN NGOAN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger