Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22 – 12 - 2025

V/v Tranh chấp ly hôn

Sơn La;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thuý

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cầm Văn Tổ
  2. Ông Hà Văn Sơ

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Chí - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Tòng Văn T, sinh ngày 02/9/1988. Số căn cước công dân: 01408, ngày cấp: 21/9/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hà Thị C, sinh ngày 30/8/1991. Số căn cước công dân: 0141, ngày cấp: 30/6/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: Bản L, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 10 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Tòng Văn T trình bày như sau:

Anh và chị Hà Thị C kết hôn với nhau từ năm 2011 do cả hai cùng tự nguyện. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) theo quy định và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/9/2011. Anh chị đã được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn hai anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, lối sống, chị C bỏ về nhà ngoại, anh T đã nhiều lần đến đón về nhưng chị C không nhất trí. Hai anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng với chị C đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Thị C.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Tòng Xuân V, sinh ngày 14/8/2008 và cháu Tòng Khánh D, sinh ngày 10/01/2013. Từ thời điểm bắt đầu sống ly thân thì hai anh chị thoả thuận cháu V do anh T nuôi dưỡng, cháu D do chị C nuôi dưỡng nên anh T có nguyện vọng giữ nguyên phần con chung như đã thoả thuận trước đây. Hai anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Thư có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh tại phiên tòa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã đến địa phương nơi cư trú của chị Hà Thị C để thực hiện tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng. Do chị C thường xuyên không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên công khai tài liệu chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho chị C. Tuy nhiên, chị C vẫn vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C với ông Hà Văn H (bố đẻ chị C) và ông Hoàng Văn H1 (trưởng bản Lo, xã C). Ông H và ông H1 đều xác nhận anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (cũ) theo đúng quy định của pháp luật.

Về mâu thuẫn của anh T và chị C thì ông H1 không nắm rõ nhưng đến năm 2019 có thấy chị C và con là cháu Tòng Khánh D trở về sống cùng bố mẹ đẻ và có nhập khẩu về lại bản Lo, xã C sinh sống cho đến nay; chị C đi làm xa nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc, gửi tiền để nuôi cháu Tòng Khánh D và thi thoảng về thăm nhà.

Ông Hà Văn H xác nhận năm 2019 thì chị C do mâu thuẫn với anh T đã trở về sống cùng gia đình ông. Hai gia đình đã tổ chức hoà giải cho anh T và chị C nhưng không thành nên đã thống nhất cho hai anh chị ly hôn và phân chia trách nhiệm nuôi con, anh T nuôi cháu Tòng Xuân V và chị C nuôi cháu Tòng Khánh D. Do đó hiện tại chị C và cháu Dương N vào cùng hộ khẩu của gia đình ông. Chị C đi làm xa nhà nhưng thường xuyên gọi điện và gửi tiền về hàng tháng để chăm sóc con. Các thông báo của Toà án gửi ông H đã thông báo qua điện thoại cho chị C biết, tuy nhiên do công việc không được nghỉ nên chị C không về để giải quyết vụ án được, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 15/10/2025 đối với cháu Tòng Xuân V và cháu Tòng Khánh D: cháu V xác nhận xin được ở cùng bố, cháu D xác nhận xin được ở cùng mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn.

Do chị C không có mặt, không có ý kiến cụ thể về việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Sau khi chủ toạ công bố đơn xin xét xử vắng mặt của anh Tòng Văn T, lý do vắng mặt của chị Hà Thị C và công bố tóm tắt nội dung vụ án, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng:
  • + Về hôn nhân: Xử cho anh T1 Văn Thư được ly hôn với chị Hà Thị C.
  • + Về con chung: Giao cháu Tòng Xuân V, sinh ngày 14/8/2008 cho anh T1 Văn Thư; giao cháu Tòng Khánh D, sinh ngày 10/01/2013 cho chị Hà Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu V, D trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Anh T2 và chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
  • + Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc anh Tòng Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • + Về án phí: Anh Tòng Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của anh Tòng Văn T về việc xin ly hôn với chị Hà Thị C. Anh Thư đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án thì Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân:

Anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2011, anh chị đã được UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là xã C, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/9/2011. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Thư cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do hai anh chị bất đồng về quan điểm, lối sống. Hai anh chị đã được gia đình hoà giải nhưng không thành; hai anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Anh Thư xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai anh chị không thể tiếp tục chung sống nên có nguyện vọng xin ly hôn với chị Hà Thị C. Hội đồng xét xử xét thấy anh T và chị C sống ly thân trong thời gian dài, không còn tình cảm với nhau, tình trạng hôn nhân của hai anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C.

[2.2] Về con chung:

Anh Thư và chị C có 02 con chung là cháu Tòng Xuân V, sinh ngày 14/8/2008 và cháu Tòng Khánh D, sinh ngày 10/01/2013. Căn cứ ý kiến của anh T, nội dung xác minh với ông Hà Văn H (bố đẻ chị C) và ông Hoàng Văn H1 (trưởng bản Lo, xã C, tỉnh Sơn La) đều xác định từ năm 2018 khi anh T và chị C bắt đầu sống ly thân thì anh T là người nuôi cháu V, chị C là người nuôi cháu Dương D ổn định cho đến nay. Cháu V xin được ở cùng bố, cháu D xin được ở cùng mẹ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc trước đây anh T và chị C phân chia trách nhiệm nuôi dưỡng con chung đã đảm bảo quyền lợi cho các con chung; các cháu V, D đều đã trên 07 tuổi và thể hiện nguyện vọng phù hợp với thực tế. Vì vậy, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho các cháu V, D cần tiếp tục giao cháu Tòng Xuân V cho anh T, giao cháu Tòng Khánh D cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; trách nhiệm nuôi dưỡng của hai anh chị là ngang nhau nên hai anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:

Do chị Hà Thị C không có yêu cầu cụ thể, anh Tòng Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung vợ chồng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.4] Về án phí:

Anh Tòng Văn T không thuộc các trường hợp được miễn, giảm án phí nên căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147, 266, 271, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;
  • - Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C.
  2. Về con chung: Giao cháu Tòng Xuân V, sinh ngày 14/8/2008 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và cháu Tòng Khánh D, sinh ngày 10/01/2013 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu V, D trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Anh Thư, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

    Anh Thư, chị C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Sau khi ly hôn, anh T và chị C được quyền thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; không ai được quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chấp nhận việc anh T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung vợ chồng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
  4. Về án phí: Anh Tòng Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu Tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000440 ngày 15 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Sơn La.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND KV4, tỉnh Sơn La;
  • - Phòng THADS KV4;
  • - UBND xã Chiềng Mung, tỉnh Sơn La;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn giữa anh Tòng Văn T và chị Hà Thị C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger