Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – AN GIANG

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 01 - 2026

“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Trân
  2. Ông Nguyễn Thành Lil

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Phan Thị P, sinh năm 1993; nơi cư trú: số B, tổ G, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 02/12/2025).
  2. Bị đơn: ông Nguyễn Xích T, sinh năm 1988; nơi cư trú: số B, tổ G, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 06/11/2025).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T sống chung vào năm 2012, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T (nay là xã C), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/HT, cấp ngày 04/9/2012.

Cuộc sống chung có hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cải vã, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đó

cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Phan Thị P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Xích T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T có hai con chung tên: Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí K1, sinh ngày 02/8/2018. Bà P đồng ý giao hai con chung cho ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng là 4.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng được tính kể từ khi có quyết định của Tòa án.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà Phan Thị P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Xích T có lời khai trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Xích T thống nhất với lời trình bày của bà Phan Thị P về điều kiện, thời gian kết hôn, cũng như nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và xác định vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2024 đến nay. Ông Nguyễn Xích T nhận thấy cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục được nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà Phan Thị P.

- Về con chung: ông Nguyễn Xích T và bà Phan Thị P có hai con chung tên: Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí K1, sinh ngày 02/8/2018, hiện đang sống chung với ông T. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung của bà P.

- Về tài sản chung, nợ chung: ông Nguyễn Xích T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- An Giang:

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí K1, sinh ngày 02/8/2018 cho ông Nguyễn Xích T được tiếp tục nuôi dưỡng, bà Phan Thị P cấp dưỡng nuôi hai con hàng tháng là 4.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01/2026 cho đến khi cháu K và cháu K1 trưởng thành và lao động được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: các đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Xích T có đăng ký thường trú tại: ấp P, xã C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T sống chung vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T (nay là xã C), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/HT, cấp ngày 04/9/2012 là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả, cuộc sống của vợ chồng không hạnh phúc nên bà P và ông T đã không còn chung sống từ năm 2024 cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên bà P yêu cầu ly hôn với ông T, ông T nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà P. Xét thấy, bà P và ông T tự nguyện thuận tình ly hôn, Hội đồng xét xử công nhận tình ly hôn giữa bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T là có căn cứ theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T có hai con chung tên: Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí K1, sinh ngày 02/8/2018. Bà P đồng ý giao hai con chung cho ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng là 4.000.000 đòng, ông T yêu cầu

được nuôi con chung và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà P. Xét thấy, việc thỏa thuận nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con của bà P và ông T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu K và cháu K1. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận việc thỏa thuận nuôi con chung của bà P và ông T, giao cháu Nguyễn Quốc K và Nguyễn Chí K1 cho ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bà P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng là 4.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01/2026 cho đến khi cháu K và cháu K1 trưởng thành và lao động được.

Ông Nguyễn Xích T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phan Thị P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 66/HT ngày 04/9/2012 của Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T (nay là xã C), tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí K1, sinh ngày 02/8/2018 cho ông Nguyễn Xích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Phan Thị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng là 4.000.000 (bốn triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01/2026 cho đến khi cháu K và cháu K1 trưởng thành và lao động được (đủ 18 tuổi).

Ông Nguyễn Xích T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phan Thị P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T mỗi người phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Phan Thị P phải chịu 300.000(ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007490 ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị P và ông Nguyễn Xích T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 15-An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 15-An Giang;
  • - UBND xã Vĩnh Xương, An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2026/HNGĐ-ST ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 08/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị Phụng và ông Nguyễn Xích Tùng. Giấy chứng nhận kết hôn số 66/HT ngày 04/9/2012 của Ủy ban nhân dân xã Lê Chánh, thị xã Tân Châu (nay là xã Châu Phong), tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Thị Phụng và ông Nguyễn Xích Tùng không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc Kiệt, sinh ngày 25/9/2012 và Nguyễn Chí Khang, sinh ngày 02/8/2018 cho ông Nguyễn Xích Tùng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Phụng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng là 4.000.000 (bốn triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01/2026 cho đến khi cháu Kiệt và cháu Khang trưởng thành và lao động được (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Xích Tùng cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phan Thị Phụng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Bà Phan Thị Phụng và ông Nguyễn Xích Tùng mỗi người phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Phan Thị Phụng phải chịu 300.000(ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007490 ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger