|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2026/HS-PT Ngày: 09/01/2026 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Hà;
Ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Trung K - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 192/2025/TLPT-HS ngày 05/11/2025 đối với bị cáo Đỗ Văn L do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn L, sinh năm 1982; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công chức; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ, chức vụ: Phó Bí thư Đảng ủy phường N (đã bị khai trừ khỏi Đảng vào ngày 30/12/2024); con ông Đỗ Văn B, sinh năm 1951 và bà Bùi Thị L1, sinh năm 1952; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1982 và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 07/12/2024 đến ngày 10/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ dân phố T, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn L, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N theo Quyết định số 14516/QĐ-UBND ngày 10/11/2021 về việc phê chuẩn kết quả bầu cử chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N, nhiệm kỳ 2021-2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh). Ngày 22/8/2024, trên cơ sở nhiệm vụ được giao, Đỗ Văn L đã ban hành Quyết định số 474/QĐ-UBND về điều chỉnh phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) theo đó: Đỗ Văn L với vai trò là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N được giao nhiệm vụ quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định pháp luật và là chủ tài khoản của Ủy ban nhân dân phường N.
Năm 2014 và 2017, Công ty trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt là Công ty X), có địa chỉ ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) do ông Nguyễn Văn S, làm Giám đốc đã trúng thầu xây lắp 11 công trình xây dựng mới và sửa chữa khác nhau tại tổ dân phố H, xã H (sau là tổ dân phố H, phường N), do Ủy ban nhân dân xã H (sau là phường N) làm chủ đầu tư. Sau khi thi công xây dựng xong, các công trình được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Ủy ban nhân dân xã H (sau là phường N) chưa thanh toán hết tiền cho Công ty X đối với khối lượng công trình đã hoàn thiện, còn nợ 2.835.290.000 đồng (Hai tỷ, tám trăm ba mươi lăm triệu, hai trăm chín mươi nghìn).
Từ năm 2021 đến 11/2024, Công ty X đã rất nhiều lần gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường N và Ủy ban nhân dân thị xã V đề nghị thanh toán tiền và chỉ đạo thanh toán tiền nợ đọng của Công ty nhưng chưa được thanh toán. Do có nhiều đơn đề nghị thanh toán tiền nợ, ngày 25/10/2024, Đỗ Văn L đã tổ chức cuộc họp, gồm: Đỗ Văn L và các ông Đỗ Văn V, ông Lê Văn B1, ông Phùng Văn T (đều là nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H), bà Nguyễn Thị H là Công chức Tài chính- Kế toán Ủy ban nhân dân phường N, bà Diêm Thị T1 làm công chức Tài chính- Kế toán Ủy ban nhân dân phường N có sự tham gia của ông Nguyên Văn S1 là Giám đốc Công ty X để làm rõ những tồn tại trong hồ sơ quyết toán các công
trình và bàn giải pháp tháo gỡ để thanh toán các khoản tiền nợ xây dựng. Trong thời gian này, ông Nguyễn Đại L2 là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) đã gọi điện cho Đỗ Văn L, chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường N thanh toán số tiền còn lại cho Công ty X để đảm bảo ổn định tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài. Sau đó, L đã chỉ đạo chị Nguyễn Thị H rà soát các công trình do Công ty X thi công đã đủ điều kiện để thanh toán.
Khi rà soát, chị H phát hiện trong khoản tiền Ủy ban còn nợ của Công ty X, có hai công trình đã được phê duyệt quyết toán và có đủ điều kiện thanh quyết toán gồm: công trình “Cải tạo, nâng cấp đường B thôn H, xã H”, theo Hợp đồng số 09/2014/HĐXD ngày 30/7/2014, số tiền còn nợ 524.025.000 đồng; công trình “Kè mái taluy đường B thôn H, xã H” theo Hợp đồng số 08/2014/HĐXD ngày 05/8/2014, số tiền còn nợ 92.941.000 đồng. Chị H báo cáo L để xin ý kiến chỉ đạo thanh quyết toán tiền hai công trình trên cho Công ty X. L đã chỉ đạo chị H lập “Giấy đề nghị thanh toán vốn” và “Giấy rút vốn” để thanh toán trả tiền cho Công ty X. Hồi 09 giờ 50 phút ngày 22/10/2024, chị H đăng nhập vào tài khoản của Ủy ban nhân dân phường N truy cập vào cổng thông tin dịch vụ công để lập “Giấy đề nghị thanh toán vốn” và “Giấy rút vốn” đối với công trình “cải tạo, nâng cấp đường B thôn H, xã H” có mã dự án là 7541566 đề nghị thanh toán số tiền 524.025.000 đồng cho Công ty X và hồi 09 giờ 34 phút ngày 27/11/2024, chị H đăng nhập vào tài khoản của Ủy ban nhân dân phường N truy cập vào cổng thông tin dịch vụ công để lập “Giấy đề nghị thanh toán vốn” và “Giấy rút vốn” đối với công trình K1 mái taluy đường B, thôn H, xã H” có mã dự án là 7541564 đề nghị thanh toán số tiền 92.941.000 đồng gửi đến tài khoản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N để duyệt thanh toán tiền trả cho Công ty X. Tuy nhiên, Đỗ Văn L chưa ký duyệt thanh toán. Khoảng 10 giờ 02 phút ngày 29/11/2024, chị H đã sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, lắp sim 0368.027.351 đăng nhập vào tài khoản zalo “nguyenhang” nhắn tin đến tài khoản zalo “Luận Ct NẾNH” của Đỗ Văn L với nội dung: “Sếp vào mã DA duyệt nhé: 7541564, 7541566 chỗ Hoa Sen” để đôn đốc L vào tài khoản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N duyệt thanh toán tiền cho Công ty X, nhưng L không ký duyệt và không trả lời tin nhắn, chỉ thả “like” để thể hiện đã đọc tin nhắn.
Sau đó, khoảng 08 giờ 11 phút ngày 05/12/2024, ông Nguyễn Văn S đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, lắp sim 0912.247.996 đăng nhập vào tài khoản zalo “Mrd” gọi điện, nhắn tin đến tài khoản zalo “Đỗ Luận CT Nenh” của Đỗ Văn L để hỏi L đã ký chuyển tiền cho Công ty X chưa. Đến 08 giờ 26 phút cùng ngày, L nhắn tin qua ứng dụng zalo cho ông S với nội dung “Trước khi chi, CT phải BC BTV Đảng ủy cho ý kiến mới thực hiện đc. A tính chuyển điều tiết trước đi”, để trao đổi với ông S đòi chi tiền cho L trước khi L ký thanh toán tiền
cho Công ty X (tức ông S phải chi tiền hối lộ thì L mới ký thanh toán tiền). Ông S tiếp tục nhắn tin hỏi L với nội dung “ck a bao nhiêu a đi vay đem sg” để hỏi L thanh toán cho Công ty X bao nhiêu tiền, thì L nhắn tin lại cho ông S có nội dung “92.941” và “524.025”, (tức số tiền 92.941.000 đồng và 524.025.000 đồng) sẽ thanh toán trả cho Công ty X. Sau đó, L hẹn ông S cuối giờ chiều cùng ngày 05/12/2024 xuống Ủy ban nhân dân phường N để gặp L. Khoảng 17 giờ cùng ngày 05/12/2024, ông S đi một mình đến phòng làm việc của L tại tầng 2 trụ sở Ủy ban nhân dân phường N gặp L. Tại đây, L đã tự yêu cầu ông S phải chi trước cho L số tiền 10% tổng số tiền 616.966.000 đồng được thanh toán cho 02 công trình “Cải tạo, nâng cấp đường bờ Vồng thôn H, xã H” và công trình “Kè mái taluy đường B, thôn H, xã H” viện lý do để L báo cáo Đảng ủy phường. Nhưng L không báo cáo Đảng ủy phường về việc thanh quyết toán và đòi nhận tiền. Nghe L nói như vậy, ông S đồng ý sẽ đưa cho L số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu) để L ký chuyển thanh toán cho Công ty X thì L đồng ý. Ngoài ra, L còn tự yêu cầu ông S phải chi thêm 1% tổng số tiền được thanh toán 02 công trình trên để cảm ơn riêng L, thì ông S đồng ý. Ông S hẹn Luận vào buổi chiều ngày 06/12/2024, ông S sẽ xuống phòng làm việc của L để đưa tiền cho L theo như yêu cầu. Ngày 05/12/2024, ông Nguyễn Văn S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh) trình báo hành vi đòi nhận tiền hối lộ của L nêu trên, đồng thời giao nộp 08 văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân phường N thanh toán tiền nợ xây dựng của Công ty X. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 06/12/2024, ông S đến phòng làm việc của L tại tầng 2 trụ sở Ủy ban nhân dân phường N và đưa cho L số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu) theo như L yêu cầu, số tiền 1% còn lại thì đưa sau. L cầm và cất số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu) nhận của ông S vào túi áo phía trong bên trái áo khoác L đang mặc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh) phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ: thu giữ tại túi áo nêu trên của L số tiền 60.000.000 đồng, (Sáu mươi triệu) gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn); ngoài ra, còn thu của L: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Văn L, 01 thẻ Ngân hàng V1 số 4572718801716249 mang tên Đỗ Văn L, số tiền 6.555.000 đồng (Sáu triệu năm trăm lăm mươi năm nghìn) cùng 01 áo khoác.
Ngày 06/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn L tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) và nơi làm việc của L tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Kết quả khám xét: tại chỗ ở của L không thu giữ đồ vật, tài liệu gì; tại nơi làm việc của L thu giữ: thu giữ tại tủ hồ sơ trong phòng làm việc của Đỗ Văn L 18 quyển sổ các loại, cùng 71 tập hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hoạt động của UBND phường Nếnh và 07 bộ hồ sơ đề nghị thanh toán các công trình của Công ty X, trong đó có hồ sơ liên quan đến công
trình xây dựng đòi nhận hối lộ nêu trên; thu tại bàn làm việc trong phòng làm việc của L 01 máy tính, nhãn hiệu DELL, có số EX: 38061487155.
Ngày 06/12/2024, chị Nguyễn Thị H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, H khai dùng để nhắn tin trao đổi với Đỗ Văn L về việc thanh toán tiền cho Công ty X.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của bị cáo L, chị H và điện thoại của ông Nguyễn Văn S; kết quả: trong ba điện thoại di động có nội dung thông tin cuộc gọi, tin nhắn, hình ảnh và các nội dung khác liên quan đến việc phạm tội như nêu trên.
Ngày 13/01/2025, Cơ quan điều tra trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B trích xuất và khôi phục dữ liệu tin nhắn zalo từ ngày 01/12/2024 đến ngày 07/12/2024 lưu trữ trong điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra thu giữ của Đỗ Văn L. Tại Bản kết luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Trích xuất và khôi phục được 2.669 dữ liệu tin nhắn zalo (thời gian từ ngày 01/12/2024 đến 07/12/2024) lưu trữ trong 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, trong đó có tin nhắn liên quan hành vi nhận hối lộ
Về vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả lại Đỗ Văn L các tài sản, đồ vật không liên quan hành vi phạm tội gồm: 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Văn L; 01 thẻ ngân hàng V1 số 4572718801716249 mang tên Đỗ Văn L; 18 quyển sổ, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell; trả lại Ủy ban nhân dân phường Nếnh các hồ sơ, tài liệu thu giữ không liên quan hành vi phạm tội; trả lại chị H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Galaxy A51; còn lại điện thoại di động, tiền, áo khoác thu giữ của L được nhập kho vật chứng để xử lý theo pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 29 tháng 07 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Đỗ Văn Luận về tội “Nhận hối lộ” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:
- Căn cứ điểm b, g khoản 2, khoản 5 Điều 354; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 03 (Ba) năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2024 đến ngày 10/01/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) sung quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy S23 Ultra mầu đen, số imeil: 3578226132378/01, số imei2: 358710713123273/01.
- - Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn L số tiền 6.555.000 đồng (Sáu triệu năm trăm lăm mươi năm nghìn) và số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu) đồng bị cáo nộp tại biên lai thu tiền số 0002475 ngày 23/07/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo 01 áo khoác tối màu dài tay phía trong hai bên có túi ngăn.
- 3. Cấm bị cáo Đỗ Văn L đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo quản lý từ cấp xã trong thời hạn từ 2 (hai năm) kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/10/2025, bị cáo Đỗ Văn L có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Đỗ Văn L trình bày: Bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không kháng cáo xin hưởng án treo. Bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạt bổ sung của bản án sơ thẩm, đồng thời giao nộp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể là: Công văn của UBND phường N xác nhận bị cáo và vợ có nhiều công hiến, đóng góp trong quá trình công tác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; huy chương kháng chiến của bố đẻ; giấy xác nhận mẹ đẻ của bị cáo có tham gia dân công hỏa tuyến; Giấy xác nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của vợ bị cáo; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho vợ bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được đoàn tụ cùng gia đình.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh.
Áp dụng điểm b, g khoản 2, khoản 5 Điều 354; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ văn L 02 (hai) năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành
án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2024 đến ngày 10/01/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo 30.000.000 đồng tiền phạt bổ sung tại biên lai thu tiền số 0000076 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Cấm bị cáo Đỗ Văn L đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo quản lý từ cấp xã trong thời hạn từ 2 (hai năm) kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự, trả lại cho ông Nguyễn Văn S số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) thu giữ tại túi áo của bị cáo Đỗ Văn L.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Đỗ Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.
Bị cáo Đỗ Văn L không có quan điểm tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo L nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận vì đã làm mất lòng tin của Đảng, của cơ quan và của nhân dân. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn L nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh xét xử đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đủ cơ sở xác định: năm 2024, Đỗ Văn L là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh), có nhiệm vụ quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định pháp luật và là chủ tài khoản của Ủy ban nhân dân phường N. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ngày 05/12/2024, L đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để đòi ông Nguyễn Văn S là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn X, có địa chỉ ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) đưa hối lộ tổng cộng 11% của tổng số tiền 616.966.000 đồng (Sáu trăm mười sáu triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn), tương ứng với số
tiền 66.000.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu) để được thanh toán cho 02 công trình “cải tạo, nâng cấp đường bờ Vồng thôn H, xã H” và công trình “Kè mái taluy đường B, thôn H, xã H” do Công ty ký hợp đồng xây dựng năm 2014 với Ủy ban nhân dân xã H (sau là phường Nếnh) nhưng chưa được thanh toán tiền. Sau đó, ông S đã tố cáo hành vi đòi hối lộ của L nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh). Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 06/12/2024, tại phòng làm việc của L tại tầng 2 trụ sở Ủy ban nhân dân phường N, ông S đưa trước cho L số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu) như yêu cầu đòi tiền hối lộ của L, số tiền còn lại đưa sau. L cầm tiền của ông S cất vào túi áo khoác đang mặc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh) phát hiện bắt quả tang. Số tiền L đòi hối lộ trong vụ án là 66.000.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu), trong đó L đã nhận được số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu), còn lại 6.000.000 đồng (Sáu triệu) chưa nhận được.
[3] Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với cơ quan Nhà nước, gây dư luận xấu cho hoạt động của cơ quan có thẩm quyền. Bị cáo là công chức và đảng viên, có trách nhiệm gương mẫu, nghiêm túc trong việc chấp hành pháp luật nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm như nêu ở trên. Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh xét xử bị cáo Đỗ Văn L về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn L thì thấy:
[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích phối hợp, báo tin với cơ quan Công an phường Nếnh, thị xã V (nay là: phường N, tỉnh Bắc Ninh) bắt giữ đối tượng Là Văn D có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, Là Văn D đã bị khởi tố, truy tố và bị đưa ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; quá trình công tác bị cáo được cấp có thẩm quyền tặng nhiều giấy khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Hội đồng xét xử sơ thẩm đã đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 03 năm tù
về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
[9] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình bổ sung các tài liệu: Biên lai số 0000076 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh về việc nộp số tiền 30.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo Bản án sơ thẩm đã tuyên; Công văn số 2480/UBND-VP ngày 27/6/2025 của UBND thị xã V xác nhận bị cáo Đỗ Văn L và vợ bị cáo là bà Phạm Thị N trong quá trình công tác có nhiều cống hiến, đóng góp; Huy chương Kháng chiến hạng nhì của ông Đỗ Văn B (bố đẻ bị cáo); Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của bà Bùi Thị L1 (mẹ đẻ bị cáo); Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở của bà Phạm Thị N do Chủ tịch UBND huyện V tặng; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh B đối với bà Phạm Thị N. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được xem xét tại phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà.
[10] Đối với vật chứng là số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) Cơ quan điều tra thu giữ tại túi áo của bị cáo Đỗ Văn L: Xét thấy, ông Nguyễn Văn S là người bị ép buộc đưa hối lộ, đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác nên cần áp dụng khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự trả lại cho ông S số tiền đã đưa hối lộ và không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông S. Bản án hình sự sơ thẩm tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) là chưa đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm cần sửa bản án sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh về phần xử lý vật chứng theo hướng trả lại ông S số tiền trên.
[11] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[12] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn L được chấp nhận nên bị cáo L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh.
- Căn cứ điểm b, g khoản 2, khoản 5 Điều 354; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ văn L 02 (H1) năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự nguyện đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2024 đến ngày 10/01/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tiền phạt bổ sung tại biên lai thu tiền số 0000076 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Cấm bị cáo Đỗ Văn L đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo quản lý từ cấp xã trong thời hạn từ 2 (hai năm) kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Nguyễn Văn S số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
(Theo Biên lai thu tiền số 0003949 ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.)
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Đỗ Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 08/2026/HS-PT ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm (nhận hối lộ)
- Số bản án: 08/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Nhận hối lộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn L - nhận hối lộ
