| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số 08/2026/KDTM-PT Ngày 06 tháng 02 năm 2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng thi công, lắp đặt” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thọ; Bà Võ Thị Minh Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Đặng Ngọc Hoài Linh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06/02/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 46/2025/TLPT-KDTM ngày 24/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công, lắp đặt”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 28/2025/KDTM-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 428/2025/QĐ-PT ngày 22/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T2; địa chỉ: H đường A, khu phố E, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1989 và bà Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm 1996; cùng địa chỉ liên hệ: Phòng D, Tầng D, Tòa nhà R N, phường C, thành phố Đà Nẵng; theo các Giấy uỷ quyền lập ngày 03/6/2024 và ngày 23/9/2025; có mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần R1; địa chỉ: 5 V, phường A, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Thái Thị H, chức vụ: Chuyên viên pháp chế doanh nghiệp của công ty và ông Nguyễn Tấn P; sinh năm: 1983; địa chỉ: C L, phường T, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, tóm tắt như sau:
Nguyên đơn trình bày rằng hai bên ký kết Hợp đồng số 29/2020/HĐXL/ĐXMT-TDF ngày 12/3/2020 và Hợp đồng số 27/2021/HĐXD/ĐXMT-TDF ngày 11/3/2021. Nguyên đơn cho rằng đã hoàn thành công việc nhưng bị đơn chưa thanh toán đầy đủ số tiền còn lại là 1.387.702.687 đồng và yêu cầu trả lãi chậm thanh toán.
Bị đơn phản tố cho rằng nguyên đơn vi phạm tiến độ và chất lượng công trình, yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả và các nội dung phản tố của bị đơn liên quan đến phạt chậm tiến độ và chất lượng công trình.
[2] Xét thấy Hợp đồng giữa các bên là hợp pháp. Việc nguyên đơn chậm tiến độ có một phần do nguyên nhân khách quan (dịch bệnh Covid-19, thiên tai). Tuy nhiên, đối với các lỗi về kỹ thuật và chất lượng đã được giám định, nguyên đơn phải chịu trách nhiệm bồi thường và khắc phục.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Xây dựng và Bộ luật Dân sự. Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần T2.
- Sửa một phần bản án sơ thẩm về việc tính toán các khoản phạt và bồi thường.
- Buộc Công ty Cổ phần R1 thanh toán cho Công ty Cổ phần T2 số tiền nợ gốc và lãi sau khi bù trừ các nghĩa vụ là 837.014.101 đồng.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Mai |
Bản án số 08/2026/KDTM-PT ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng thi công, lắp đặt
- Số bản án: 08/2026/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công, lắp đặt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2026
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty T2 đề nghị Tòa án: Buộc Công ty R2 phải thanh toán toàn bộ số tiền công nợ của 02 hợp đồng còn lại là 1.387.702.687 đồng. Buộc Công ty R2 phải thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 22/01/2024 đến ngày 29/9/2025 là (1.387.702.687 đồng x 10,575%/365 x 616 ngày) = 247.665.009 đồng
