| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2026/HNGĐ-ST | |
| Ngày: 20-01-2026 | |
| V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Quốc Đấu |
| Ông Nguyễn Đình Cát | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An tham gia phiên tòa: | Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên. |
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 333/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
| Nguyên đơn: | Bà Trần Thị H | Sinh ngày: 17/08/1989 | Vắng mặt |
| Số CCCD: | 040189036687 do Cục cảnh sát cấp ngày 10/07/2022. | ||
| Nơi cư trú: xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay gọi là khối N, phường V, tỉnh Nghệ An. | |||
| Bị đơn: | Ông Tạ Quang Anh S ngày: 25/09/1985 | Vắng mặt | |
| Số CMND: | 186197223 (không rõ ngày cấp và nơi cấp). | ||
| Nơi ĐKNKTT: khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay là phường T, tỉnh Nghệ An. | |||
| Hiện nay đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. | |||
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn (bà Trần Thị H) vắng mặt nhưng đã có văn bản trình bày:
1. Về hôn nhân: bà và ông Tạ Quang A kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 10 năm 2011, tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay gọi là phường T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với bố mẹ chồng tại khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An một thời gian, sau đó khoảng năm 2016, ông A đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, thời gian đầu khi mới sang Đài Loan ông A còn gọi điện thoại về nhưng sau đó thì ít dần và không gọi về nữa, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nên bà cũng đưa hai con về bên ngoại ở từ đó đến nay. Bà xét thấy vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2016 đến nay, ông A không gọi điện về và cũng không về nhà thăm vợ con, hai bên không còn quan tâm tới nhau, tình cảm vợ chồng không còn nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Quang A.
2. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là:
- Tạ Danh T, sinh ngày 27/03/2011 hiện nay đang học lớp 9A trường Trung học cơ sở N.
- Tạ Tùng L, sinh ngày 15/05/2013 hiện nay đang học lớp 7B trường Trung học cơ sở N.
Từ năm 2016 khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, bà đưa 02 con về bên ngoại ở khối N, phường V, tỉnh Nghệ An từ đó đến nay, bà đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Bà H khai biết ông Tạ Quang A đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể nên bà làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An thu thập thông tin xuất nhập cảnh đối với ông Tạ Quang A. Tại công văn số 4976/QLXNC-Đ1 ngày 24/11/2025 của Phòng Q1 – Công an tỉnh N xác nhận ông Tạ Quang A lần xuất cảnh gần nhất ngày 11/3/2018 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế N1, chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.
Theo bà H thì ông A vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Tạ Danh Q và bà Hoàng Thị B, địa chỉ khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay là phường T, tỉnh Nghệ An. Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ thêm thông tin từ bố đẻ của ông Tạ Quang A.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Nghệ An xác minh thu thập chứng cứ tại bà Hoàng Thị B và giao Thông báo thụ lý vụ án và Quyết định đưa vụ án ra xét xử để bà B thông báo cho ông Tạ Quang A (con bà B) về quá trình giải quyết vụ án. Bà Hoàng Thị B đồng ý nhận văn bản của Tòa án và thông báo lại cho ông Tạ Quang A.
Bị đơn ông Tạ Quang A, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của bị đơn là bà Hoàng Thị B (mẹ của ông Tạ Quang A) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật đến lần thứ hai mà thân nhân của ông A cũng không cung cấp địa chỉ của ông Tạ Quang A cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, ông Tạ Quang A cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do.
Người thân thích của ông Tạ Quang A có bà Hoàng Thị B (mẹ ông Tạ Quang A) trình bày:
Bà đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và công văn của Tòa án yêu cầu cung cấp địa chỉ của Tạ Quang A. Tạ Quang A là con trai của bà và chồng là ông Tạ Danh Q; bà với ông A chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, zalo, fb, bà đã yêu cầu gửi địa chỉ cụ thể ở Đài Loan nhưng Tạ Quang A không cung cấp nên bà không biết địa chỉ của Tạ Quang A ở Đài Loan để cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên bà đã thông tin cho Tạ Quang A biết việc bà H đang tiến hành thủ tục ly hôn ông Tạ Quang A tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An và ông A đã biết và đồng ý ly hôn. Về cuộc hôn nhân của bà H và ông A bà có ý kiến như sau: hai bên kết hôn, có đăng ký năm 2011, tại UBND phường L, thành phố V. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với bố mẹ chồng tại khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An một thời gian, sau đó khoảng năm 2016, ông Tạ Quang A đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, thời gian đầu khi mới sang Đài Loan ông Tạ Quang A có gọi điện thoại về hỏi thăm vợ con nhưng sau đó thì không gọi nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016, bà H đưa hai con về bên ngoại ở khối N, phường V, tỉnh Nghệ An từ đó đến nay, bà H yêu cầu ly hôn thì ông Tạ Quang A đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Vợ chồng bà H và ông A có 02 con chung tên là Tạ Danh T, sinh ngày 27/03/2011 và Tạ Tùng L, sinh ngày 15/05/2013, các cháu hiện nay đang ở cùng với bà H. Nay, bà H yêu cầu ly hôn ông A và đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung thì bà B và ông A đồng ý. Về tài sản chung, nợ chung: bà B khai sau khi kết hôn vợ chồng bà H và ông A không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành yêu cầu bà Hoàng Thị B (mẹ của Tạ Quang A) cung cấp địa chỉ của ông Tạ Quang A ở nước ngoài nhưng bà Bộ chỉ biết ông Tạ Quang A đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án. Bà B đã thông tin cho ông A biết việc bà H làm đơn ly hôn ông A tại TAND khu vực 1 – Nghệ An nhưng đến nay ông A vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không khai báo theo quy định tại điều 10, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị H, cho bà H được ly hôn với ông Tạ Quang A. Về con chung: Do ông Tạ Quang A đang ở nước ngoài, chưa có ý kiến trình bày nên giao cho bà Trần Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Tạ Danh T, sinh ngày 27/03/2011 và Tạ Tùng L, sinh ngày 15/05/2013 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông A do bà H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: bà H, bà B đều khai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Tạ Quang A vắng mặt và không có ý kiến gửi cho Tòa án nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự; kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: bà Trần Thị H hiện cư trú tại khối N, phường V, tỉnh Nghệ An làm đơn xin ly hôn ông Tạ Quang A có địa chỉ trước khi xuất cảnh ở khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay là phường T, tỉnh Nghệ An hiện nay đang ở Đài Loan được xác nhận thông qua Phòng Q1 - Công an tỉnh N (tại văn bản số 4976/QLXNC-Đ1 ngày 24/11/2025 xác nhận ông Tạ Quang A đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 11/03/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An theo quy định tại Điều 28 của BLTTDS năm 2015; điểm b, khoản 1 điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân và điều 35 của Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.
- Về thủ tục hòa giải và sự vắng mặt của các đương sự: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn ông Tạ Quang A vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân là bà Hoàng Thị B (mẹ ông A) để bà B thông báo lại cho ông Tạ Quang A, đồng thời tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, nhà văn hóa khối và nơi ở của ông Tạ Quang A theo quy định pháp luật đến lần thứ hai nhưng đến ngày xét xử ông Tạ Quang A vẫn vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc ông Tạ Quang A vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại điều 10, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình và công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối Cao; đối với nguyên đơn bà Trần Thị H do bận công việc nên bà không tham gia phiên họp và hòa giải được, bà đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 207; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Tạ Quang A kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 10 năm 2011, tại UBND phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay gọi là phường T, tỉnh Nghệ An đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2016 ông Tạ Quang A đi lao động tại Đài Loan, thời gian đầu vợ chồng còn điện thoại với nhau nhưng về sau thì không liên lạc nữa. Bà H đã đưa 02 con về bên ngoại ở tại từ 2016 cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân đã 10 năm nay, bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Quang A. Qua bà Hoàng Thị B thì ông Tạ Quang A đã biết việc bà H đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án và ông đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Trần Thị H và ông Tạ Quang A đã không còn tồn tại trên thực tế từ 10 năm nay, như vậy hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: bà H và ông A có 02 con chung. Xét thấy, hiện nay ông Tạ Quang A đang ở nước ngoài, các con đều có nguyện vọng ở với mẹ, bà bà H xin tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, vì vậy cần giao cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Tạ Danh T, sinh ngày 27/03/2011 và Tạ Tùng L, sinh ngày 15/05/2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi và trưởng thành là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông A cấp dưỡng tiền nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông A.
[4]. Về tài sản chung: bà H, bà B đều khai vợ chồng bà H và ông A không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông A vắng mặt và không có văn bản trình bày gửi cho Tòa án nên miễn xét.
[5]. Về án phí: bà Trần Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28; Điều 40; Điều 147; Điều 273; Điều 469; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm b, khoản 1 điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; điều 35 của Luật số 85/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị H được ly hôn ông Tạ Quang A.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Tạ Danh T, sinh ngày 27/03/2011 và Tạ Tùng L, sinh ngày 15/05/2013 đến lúc các con chung đủ 18 tuổi và trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông Tạ Quang A do bà Trần Thị H không yêu cầu. Ông Tạ Quang A có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
Bà Trần Thị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Tạ Quang A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu được thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung và nợ: bà Trần Thị H, bà Hoàng Thị B đều khai vợ chồng bà Trần Thị H và ông Tạ Quang A không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án can thiệp giải quyết. Ông Tạ Quang A vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án nên miễn xét.
- Về án phí: bà Trần Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002106 ngày 30/10/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, bà Trần Thị H đã nộp xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bà Trần Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm. Ông Tạ Quang A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND T. Nghệ An. - TAND T. Nghệ An. - VKSND KV1-Nghệ An. - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An; - UBND P Thành Vinh, T. Nghệ An (để hủy ĐKKH số 124/2011 ngày 19/10/2011 tại UBND P. Lê Lợi, TP Vinh; T. Nghệ An) - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Tuyết Nhung |
Bản án số 08/2026/HNGĐ-ST ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 08/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn: bà Trần Thị Hiền và bị đơn: ông Tạ Quang Anh
