Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HS-PT

Ngày: 22-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh

Ông Lê Chí Công

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 322/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 104/2025/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vự 1, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày: 05/11/1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: ấp P, xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha tên Lê Văn Dũng E; sinh năm 1971 và mẹ tên Phan Thị Đ; sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2025 đến ngày 04/4/2025; Ngày 08/8/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Bị cáo được tại ngoại cho đến nay. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn T: Luật sư Cao Quốc C - Công ty L1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

- Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Từ Q, Huỳnh Bùi Quốc K và Huỳnh Thanh Nguyên D không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không có triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 28/3/2025 Nguyễn Từ Q cùng với Lê Văn T, người tên K1, người tên T1 (cả hai đều chưa rõ tên thật, địa chỉ) và bạn gái Q là Huỳnh Thị Ngọc M đến ăn uống ở quán A trên đường L, phường A (nay là phường R, tỉnh An Giang). Cả nhóm 05 người ăn uống đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì T1 với K1 rủ Q, T thuê phòng để sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý (M đã đi vệ sinh nên không biết). Lúc này, Q nói là Q sẽ bỏ tiền ra trước để thuê căn hộ tại Chung cư S, Q mua ma túy và thuê loa, đèn phục vụ việc sử dụng ma tuý, sau khi sử dụng xong thì ngày hôm sau sẽ chia ra theo đầu người trả tiền lại cho Q thì cả nhóm đồng ý. Q lên mạng tìm và gọi điện qua mạng xã hội Zalo cho Từ Hữu Khoa hỏi thuê căn hộ SO10 – 3 tại Chung cư S thì K4 đồng ý (K4 không biết Q thuê để sử dụng ma tuý). Sau khi thuê địa điểm xong thì Q, M, T, K1, T1 cùng đến khu chung cư S để thuê phòng. Tại đây, Q gặp K4 ở dưới sảnh Chung cư nên Q lấy chìa khóa phòng và trả tiền thuê phòng cho K4 là 1.000.000 đồng. Sau đó 05 người gồm Q, M, T, K1, T1 cùng lên mở phòng tại Căn hộ SO10-3. Khi cả nhóm đã vào phòng thì Q mới một mình chạy xe đi đến đoạn đường thuộc khu C, phường A (phía sau Quảng trường Trần Quang K2) tìm gặp và mua ma túy của một người đàn ông (không rõ tên) do Q đã liên lạc qua Facebook trước đó (Q chỉ quen biết trên mạng xã hội Facebook) với số lượng 02 bịch ma túy K3 (Ketamine) và 01 viên thuốc lắc (viên nén hình trụ màu nâu) được đựng trong bịch nylon, với tổng số tiền là 3.900.000 đồng, Q trả trước 2.900.000 đồng, còn nợ lại người này 1.000.000 đồng, Q hẹn là tối sẽ trả tiền ở địa điểm đã mua ma tuý. Sau khi mua được ma tuý thì Q cất ma túy trong người, Q tiếp tục gọi điện cho một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) qua mạng xã hội Facebook để thuê loa và đèn với số tiền 300.000 đồng (sau khi thuê xong thì Q đã xoá kết bạn Facebook với người này). Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Q quay trở về chung cư S và lên căn hộ SO10-3, tại đây thì K1 là người ráp loa và đèn nhưng thời điểm này cả nhóm chưa sử dụng ma tuý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì Q, T, M cùng nhau sử dụng ma tuý. Cả nhóm sử dụng được khoảng 20 phút thì Trần Tấn Đ1 đến cùng sử dụng (Đ1 do T1 rủ đến sử dụng ma tuý chung với cả nhóm trước đó và trước khi sử dụng ma túy thì Đ1 biết là phải hùn tiền để cùng sử dụng, do Đ1 không có tiền nên T1 nói là có gì tính sau (trả tiền lại sau) thì Đ1 đồng ý). Lúc này K1 và T1 nói là có việc gia đình nên cả hai đi về trước, không tham gia sử dụng ma tuý cùng cả nhóm. Trong lúc Q, T, Đ1 sử dụng ma tuý thì Huỳnh Bùi Quốc K cũng đến cùng sử dụng ma tuý (do trước đó K1 rủ K đến). Kiệt hít được một hơi thì do có việc nên bỏ đi về. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Đ1 gọi điện cho K rủ K đến sử dụng ma tuý thì K đồng ý và đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì K rủ Huỳnh Thanh N đến căn hộ S chung cư S cùng sử dụng ma túy. Tại đây cả nhóm Q, Đ1, K, N, M cùng sử dụng ma tuý, cả nhóm lần lượt thay phiên nhau hít ma tuý. Quá trình sử dụng thì cả nhóm đều hiểu là khi sử dụng ma tuý xong sẽ chia ra tính theo đầu người trả tiền mua ma tuý, tiền thuê phòng, thuê loa đèn lại cho Q (riêng M là nữ và là bạn gái Q nên không phải hùn hạp trả tiền). Sau khi sử dụng được một vài lần thì K và N mỗi người đưa trước cho Q 500.000 đồng (tổng cộng 1.000.000 đồng) hùn tiền sử dụng ma túy. Lúc này Q lấy số tiền trên đem đi trả cho người đã bán ma túy cho Q tại khu vực Công viên sau Quảng trường đường T số tiền còn nợ là 1.000.000 triệu đồng, sau khi trả tiền xong thì Q đã xóa kết bạn Facebook với người này. Khi trả tiền xong Q quay trở về căn hộ tại chung cư S để tiếp tục sử dụng ma tuý cùng cả nhóm, đến 01 giờ ngày 29/3/2025 thì bị Công an bắt quả tang cùng các tang vật.

Quá trình điều tra thì Nguyễn Từ Q, Lê Văn T, Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận thống nhất cùng nhau sử dụng ma tuý, cùng thỏa thuận và hiểu rõ là khi sử dụng ma tuý xong sẽ chia ra tính theo đầu người trả tiền mua ma tuý, tiền thuê phòng, thuê loa đèn lại cho Q (riêng K, N mỗi người đã trả trước cho Q số tiền 500.000 đồng). Ngày 04/4/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Từ Q, Lê Văn T, Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K để điều tra, riêng bị cáo Lê Văn T được bảo lĩnh vào ngày 8/8/2025, tại ngoại và bị cáo Huỳnh Bùi Quốc K được bảo lĩnh vào ngày 23/4/2025.

Đối với Huỳnh Thị Ngọc M qua điều tra xác định không cùng các bị can thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng có sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, không truy cứu trách nhiệm hình sự M về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà đề nghị chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Từ Hữu K4 có cho bị can Nguyễn Từ Q thuê căn hộ SO10 – 3 Chung cư S, để rồi sau đó các bị can thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Qua điều tra xác định K4 không biết được việc này nên không phải là đồng phạm với các bị can trong vụ án, do đó không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với hai người đàn ông (đều không rõ tên) đã bán trái phép chất ma túy và cho bị can Nguyễn Từ Q thuê loa và đèn, người tên K1 và người tên T1 có rủ bị can Q, bị can T thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy, qua điều tra chưa xác định được tên, địa chỉ của những người này nên chưa thể mời làm việc được để làm rõ hành vi phạm tội cũng như vai trò đồng phạm trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ đề xuất xử lý sau

* Tại Bản kết luận giám định số 347/KL-KTHS, ngày 03/4/2025 của Phòng K5 Công an tỉnh K, kết luận:

  • - Gói 01: Gói niêm phong gửi giám định bên trong có chứa:
  • + Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong một bịch nylon là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,4900 gam.
  • + 01 (một) viên nén hình trụ, màu nâu chứa trong một bịch nylon là ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3810 gam.
  • - Gói 02: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3740 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Tại Bản kết luận giám định số 656/KL-KTHS, ngày 16/6/2025 của Phòng K5 Công an tỉnh K, kết luận:

  • - Phục hồi và trích xuất 4.39GB dữ liệu trong điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen, số I: 357268095783041.
  • - Phục hồi và trích xuất 929MB dữ liệu trong điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu đen, số I: 867993073359133.
  • - Phục hồi và trích xuất 3.64GB dữ liệu trong điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu trắng xám, số I: 357865261622133.

Kèm theo kết luận giám định (nếu có): 01 thiết bị lưu trữ chứa toàn bộ dữ liệu được trích xuất trong 03 thiết bị gửi giám định, được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu:

Thu giữ trong túi áo bên trái của Nguyễn Từ Q đang mặc:

  • - 01 (một) bịch nylon có rãnh gài, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong chứa một viên nén hình trụ, màu nâu. Tất cả được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký và họ tên của Nguyễn Từ Q, Bùi Ngọc H, Điều tra viên Bùi Ngọc L, có dòng chữ “đây là 02 bịt ma túy của tui. Cơ quan Công an thu giữ trong túi áo phía trước bên trái tui đang mặc trên người” và dấu mộc đỏ của Công an phường A, Công an tỉnh K (Gói 01);

Thu giữ tại phòng đầu tiên của căn hộ S Chung cư S:

  • - 01 (một) bịch nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (các hạt tinh thể này được thu gom trên dĩa bằng sứ màu trắng), được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký và họ tên của Nguyễn Từ Q, Huỳnh Thị Ngọc M, Lê Văn T, Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K, Bùi Ngọc H, Điều tra viên Bùi Ngọc L và dấu mộc đỏ của Công an phường A, Công an tỉnh K (Gói 02);
  • - 01 (một) dĩa bằng sứ, màu trắng; 01 (một) thẻ khách hàng bằng nhựa của “nha khoa Quốc tế Tuệ Minh” trên thẻ có dãy ký tự in nổi N0.9215051176; 01 đoạn ống được làm từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, trong đó một đầu tờ tiền có dãy số 23964293, tờ tiền được cuộc tròn chặt lại bằng một ống giấy tròn, ở hai đầu được bọc lại bằng phần giấy đầu điếu thuốc có ký tự “NO.555” và ký tự “SIGNATURE”. Tất cả được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký và họ tên của Nguyễn Từ Q, Huỳnh Thị Ngọc M, Lê Văn T, Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K, Bùi Ngọc H, Điều tra viên Bùi Ngọc L và dấu mộc đỏ của Công an phường A, Công an tỉnh K;
  • - 01 (một) loa cầm tay màu đen nhãn hiệu BoomBox2, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) máy chiếu (loại nhỏ), màu đen, nhãn hiệu Laser Show K10+, máy chiếu đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) đèn chiếu màu trắng, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) dây sạc, loại dùng sạc đèn chiếu, nhãn hiệu Toshiba, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Click, màu đen, biển kiểm soát 68M3-6352, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 68C1-416.36, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Club 50, màu xanh, gắn biển kiểm soát 67N7-7145, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, số Imei: 357268095783041, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Từ Q);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, tình trạng máy không mở nguồn được, máy đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Văn T);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen, số Imei: 354831094912797, đã qua sử dụng (thu giữ của Huỳnh Thị Ngọc M);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, số Imei: 357865261622133, đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Tấn Đ1);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei: 867993073359133, đã qua sử dụng (thu giữ của Huỳnh Bùi Quốc K);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei: 865570057972495, đã qua sử dụng (thu giữ của Huỳnh Thanh N).

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 104/2025/HS-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là từ ngày 29/3/2025 đến ngày 7/8/2025.

- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Từ Q 13 năm tù, bị cáo Trần Văn Đ2 07 năm tù, bị cáo Huỳnh Bùi Quốc K 07 năm tù và bị cáo Huỳnh Thanh N 07 năm tù, còn về án phí hình sự, quyền kháng cáo và biện pháp tư pháp theo luật định.

- Ngày 04/12/2025, bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 21/11/2025, bị cáo Trần Tấn Đ1 có đơn kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 07/01/2026, bị cáo Trần Tấn Đ1 có đơn xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử đúng kháng cáo của bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo có cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Ngày 08/12/2025 bị cáo hỗ trợ lực lượng Công an truy bắt tội phạm truy nã sự việc này có xác nhận của điều tra viên cũng như biên bản bắt người đang bị truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh An Giang. Căn cứ theo điểm a Điều 19 của Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ 07 năm xuống còn 06 năm tù.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Quan điểm của Luật sư Cao Quốc Chiến bào C1 cho bị cáo: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, do tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo có cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo có thành tích tích Giúp Cơ quan cảnh sát điều tra truy bắt tội phạm truy nã có xác nhận của điều tra viên. Căn cứ theo, điểm a Điều 19 của Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quyết định của Bản án sơ thẩm:

Vào ngày 28/3/2025, các bị cáo Nguyễn Từ Q, Lê Văn T, Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại căn hộ S Chung cư S thuộc khu đô thị P, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang) và cho Huỳnh Thị Ngọc M sử dụng trái phép chất ma tuý tại căn hộ trên. Căn hộ thuê nêu trên đều do các bị cáo hùn tiền cùng thuê và hùn tiền mua ma tuý và thuê loa, đèn phục vụ việc sử dụng ma tuý, trong đó Q là người liên hệ trực tiếp mua ma tuý với tổng số tiền mua ma tuý là 3.900.000 đồng gồm 02 bịch ma túy Khay (Ketamine) và 01 viên thuốc lắc (viên nén hình trụ màu nâu) được đựng trong bịch nylon và tiền thuê loa, đèn là 300.000 đồng. Tại căn hộ thuê thì Q được sự giúp sức của T đã lấy 01 bịch ma túy Khay (Ketamine) đổ ra đĩa sứ tròn, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ma tuý cho các bị cáo Trần Tấn Đ1, Huỳnh Thanh N, Huỳnh Bùi Quốc K cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngoài ra Công an phường A còn bắt quả tang Nguyễn Từ Q có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Q có hành vi tàng trữ 1,4900 gam loại Ketamine để 01 bịch nylon có rãnh gài và 01 viên ma tuý khối lượng 0,3810 loại MDMA để trong 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ được Q cất giấu trong túi áo phía trước bên trái Q đang mặc trên người nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 07 năm tù là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.

[3] Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm xong, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là mầm mống phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, là tác nhân gây hủy hoại đến sức khỏe, tính mạng của con người, hành vi của bị cáo làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo có cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Ngày 08/12/2025 bị cáo hỗ trợ lực lượng Công an truy bắt tội phạm truy nã sự việc này có xác nhận của điều tra viên cũng như biên bản bắt người đang bị truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh An Giang. Căn cứ theo điểm a Điều 19 của Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Xét thấy, do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới khung hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Việc sửa Bản án sơ thẩm là không có lỗi của cấp sơ thẩm do tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm được tình tiệt giảm nhẹ mới.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa bản án sơ số: 104/2025/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 06 (S) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là từ ngày 29/3/2025 đến ngày 7/8/2025.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc.

4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 104/2025/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh AG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh AG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Cơ quan điều tra KV (1)
  • - VKS KV (1)
  • - Tòa án KV (1)
  • - Thi hành án hình sự KV (1)
  • - Chi cục thi hành án dân sự KV (1)
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Văn Thuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/HS-PT ngày 22/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 07/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phúc thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger