Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 07/2026/DS-PT

Ngày: 19/01/2026

V/v: “Tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung;

Các Thẩm phán:

Bà Trương Thị Anh

Bà Lê Thị Phương Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 117/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”. Do bản án số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa bị kháng nghị và kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 142/2025/QĐ-PT ngày 24/11/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • - Ông Trần Cao Ư, sinh năm 1975 (Có mặt)
  • - Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1978 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Nhân Hậu, xã Đông Thành, tỉnh Thanh Hóa

2. Bị đơn:

  • - Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1970 (Có mặt)
  • - Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Vào năm 2015, gia đình bà D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Quốc Đ và bà Trần Thị M, diện tích đất chuyển nhượng là 325m² tại thửa đất số 181, tờ bản đồ 08, địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa). Sau đó gia đình bà D đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB349242, ngày 01/10/2015 đứng tên ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D. Đất có tứ cận như sau:

  • - Phía đông giáp hộ ông Trần Ngọc H số đo 21,94m;
  • - Phía tây giáp hộ ông Trần Văn V số đo 21,3m;
  • - Phía nam giáp đường số đo 15,3m;
  • - Phía bắc giáp hộ ông Nguyễn Văn H1 số đo 14,6m.

Khi nhận chuyển nhượng, đất nhà ông Đ bà M lúc bấy giờ đang là 01 ao rau muống. Gia đình ông Trần Ngọc H là hộ liền kề sử dụng đất chưa lắp đặt đường nước thải sinh hoạt. Năm 2017, gia đình bà D hút cát san lấp ao. Sau khi gia đình hút đầy cát thì gia đình ông Trần Ngọc H đã tự ý lắp đặt đường ống nước thải sinh hoạt chạy dài dọc theo cạnh đất phía đông của gia đình bà D mà không hỏi ý kiến vợ chồng bà D. Bà có sang nhà ông H hỏi lý do vì sao lại lắp đặt đường ống nước trên đất nhà bà mà không hỏi ý kiến gì thì ông H nói rằng đường ống nước ông H lắp đặt trên đất nhà ông H. Vợ chồng bà đã làm đơn báo cáo xã Đ. Cán bộ địa chính xã là ông Đỗ Minh C và ông Trần Văn T trưởng thôn đã xuống đất nhà bà D để kiểm tra đo đạc lại. Ông C có lập biên bản và xác định vị trí đất đo đạc là tứ cạnh tiếp giáp mép tường rào nhà ông Trần Văn V đến giáp mép tường nhà nhà ông Trần Ngọc H và xác định cạnh đất phía nam của gia đình bà D chiều rộng là 15,3m và xác định đường ống nước của nhà ông H đã lắp đặt trên đất nhà bà D, ba gia đình đã ký biên bản kiểm tra đất cho gia đình bà D. Biên bản này hiện đang lưu ở Ủy ban nhân dân xã Đ. Trên cơ sở này bà D cho rằng nhà ông H xây tường nhà vệ sinh, công trình phụ lấn sang đất nhà bà D.

Năm 2021, gia đình bà D làm nhà ở, thấy đường ống nước thải nhà ông H bị vỡ chảy nước thải sang đất nhà bà D nên bà đã yêu cầu ông H chuyển đường ống nước thải thì ông H lại cho rằng đường ống nước thải lắp đặt trên đất nhà ông H nên không đồng ý. Bà D đã làm đơn báo cáo Ủy ban nhân dân xã Đ. Ngày 09/6/2022, đoàn đo đạc của xã về đo đạc và giải quyết thì lại xác định sai vị trí mốc giới thửa đất của gia đình bà D, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bà D. Do vậy bà đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Buộc gia đình nhà ông H, bà S phải trả lại diện tích đất rộng 35cm, dài 21,94m (cạnh phía Đông tiếp giáp đất nhà ông H) cho gia đình bà bà D.
  • - Buộc gia đình ông H phải tháo dỡ, di dời đường ống nước thải sinh hoạt lắp đặt trên đất nhà bà D từ năm 2017.
  • - Buộc gia đình ông H bà S phải tháo dỡ tường nhà vệ sinh, công trình phụ ông H xây dựng đã lấn sang phía bắc đất nhà bà D (chiều dài 60cm, chiều rộng 40cm).

Ông Trần Cao Ư là chồng bà D là đồng nguyên đơn thống nhất nội dung của bà Nguyễn Thị D trình bày.

* Quan điểm của bị đơn ông Trần Ngọc H:

Năm 1997, gia đình ông được Nhà nước cấp đất. Đến năm 1999, gia đình ông xây dựng nhà trên đất. Đến năm 2005, nhà ông chuyển nhà ở thành nhà bếp và nhà vệ sinh nên lắp đường ống nước. Đến ngày 10/6/2009, được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 380400 tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 8 tại thôn N, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), tỉnh Thanh Hóa với diện tích là 591m². Quá trình sinh sống không có tranh chấp với ai. Năm 2015, gia đình bà Nguyễn Thị D, ông Trần Cao Ư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Quốc Đ và bà Trần Thị M giáp đất nhà ông. Năm 2017, gia đình bà Nguyễn Thị D bơm cát bồi nền. Năm 2021, gia đình bà D làm nhà có thuê máy múc làm vỡ hệ thống thoát nước nhà ông và xây móng nhà lấn sang phần đất phía tây của gia đình ông diện tích 4,2m² (0,6m chiều rộng x 7m chiều dài). Gia đình ông đã báo cáo với chính quyền địa phương, yêu cầu bà D dừng xây dựng để giải quyết tranh chấp. Ngày 14/6/2022, chính quyền địa phương đã tiến hành đo đạc thực địa và xác định gia đình bà D đã xây dựng lấn lên phần đất của gia đình ông. Đến ngày 03/10/2022 và ngày 06/10/2022 chính quyền địa phương đã tiến hành hòa giải về việc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình. Đến ngày 11/10/2022, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H đã có kết quả giải quyết đơn của nhà bà D với nội dung: Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị hai hộ gia đình bà D và gia đình ông tạm dừng xây dựng bất cứ công trình xây dựng nào trên thửa đất mà hai bên đang tranh chấp cho đến khi có kết quả giải quyết của cơ quan pháp luật. Tuy nhiên từ khi đào móng đến nay gia đình bà D không chấp hành mà vẫn xây dựng.

Nay bà D khởi kiện yêu cầu gia đình ông phải trả lại diện tích đất lấn chiếm và tháo dỡ đường ống nước, tháo dỡ tường nhà vệ sinh, ông không đồng ý vì tường nhà vệ sinh và đường ống nước này ông xây dựng trên đất của gia đình ông và có trước khi nhà bà D nhận chuyển nhượng của nhà ông Trần Quốc Đ và bà Trần Thị M.

Đồng thời ông cũng đề nghị Tòa án buộc gia đình bà D phải trả lại diện tích 4,2m² đất đã lấn chiếm của gia đình nhà ông và buộc gia đình bà D phải tháo dỡ các công trình xây trên phần đất đang lấn chiếm của gia đình ông.

Bà Nguyễn Thị S thống nhất ý kiến của ông Trần Ngọc H đã trình bày. Gia đình bà làm đường ống nước trên phần đất của gia đình mình, không có việc lấn chiếm đất của nhà ông Ước D1 để làm đường ống nước. Do vậy không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Kết quả xem xét thẩm định hiện trạng:

1. Thửa số 181, tờ bản đồ số 8, diện tích 325m² tại thôn N, xã Đ, huyện H (nay là thôn Đ), tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 349242, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2015 đứng tên ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D:

  • - Diện tích thửa đất hiện trạng 322,4m² (trong đó có 10,4m² và 0,7m² nằm trong phạm vi tranh chấp).
  • + Phía đông giáp hộ ông H số đo (1,12 + 0,62 + 9,80 + 2,97 + 3,73 + 4,36)m;
  • + Phía tây giáp đất ông V số đo (14 + 7,70)m;
  • + Phía nam đường ruộng số đo (14,91 + 029) = 15,2m;
  • + Phía bắc giáp đất ông H1 số đo 13,97m.

2. Thửa đất số 134 tờ bản đồ số 8, diện tích 591m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 3040 do UBND huyện H cấp ngày 10/6/2009 đứng tên hộ ông Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị S (sử dụng riêng).

  • * Diện tích hiện trạng thửa đất 588,7m² (chưa bao gồm diện tích đang tranh chấp hộ ông Trần Cao Ư 10,4m² và 5,7m² nhưng không có ranh giới hiện trạng):
  • - Phía đông giáp hộ đất ông T1 số đo (1,38 + 18,86 + 4,79 + 11,21 + 6,49 + 1,31)m;
  • - Phía tây giáp đất ông Ư bà D số đo (1,12 + 0,62 + 9,80 + 2,97 + 3,73 + 4,36)m;
  • - Phía nam giáp ruộng số đo 15,91m;
  • - Phía bắc giáp ngõ đi số đo 9,97m.
  • * Kiểm tra vị trí tranh chấp theo hiện trạng:
  • - Phía đông giáp hộ đất ông H, bà S số đo (1,12 + 0,62 + 9,80 + 2,97 + 3,73 + 4,36)m;
  • - Phía tây giáp đất ông Ư bà D số đo (1,12 + 9,70 + 11,20)m;
  • - Phía nam giáp ruộng số đo 0,29m;
  • - Phía bắc giáp đất ông H số đo 0,63m.

Diện tích: 10,4m² + 0,7m². Trị giá 11.100.000 đồng.

Tài sản trên đất: Trên phần đất tranh chấp ông Ư, bà D đã xây tường, sàn nhà chính, số đo phía bắc là 0,36m, phía nam là 0,19m, phía đông là 6,90m, phía tây là 6,90m (cao 3,9m, xây gạch 220, bê tông cốt thép xây năm 2021). Diện tích nhà trên đất tranh chấp là 1,9m². Trị giá 17.696.150 đồng, trong đó phần tường nhà công trình phụ nhà ông Huệ S1 (0,7m²) không ghi nhận định giá.

Phần tường phía sau đất của ông H (ranh giới giữa nhà Hải Đ1 và ông H) là 01 bức tường móng gạch đỏ, xây năm 1998 sau khi nhận đất, hiện tại nhà ông H đang sử dụng bức tường cũ này.

Giữa phần đất tranh chấp là khe đất giữa hai nhà đang sử dụng có đường ống nước lắp năm 2017. (Theo ý kiến của bà D thì là khi nhà bà mua đất năm 2015 chưa có đường ống nước đến năm 2017 ông H mới làm đường ống nước).

Hiện trạng phần đất phía đông của ông Ư bà D có bức tường nhà công trình phụ, tường nhà chính, tường bao theo chiều dài phía đông của cạnh đất (tường bao xây năm 2019 do ông H xây dựng). Ông H trình bày đất của gia đình ông tính từ bức tường bao mà ông H xây có chừa lại 35cm để làm đường nước thải.

Chi phí tố tụng tổng cộng là: 18.040.000 đồng ông Trần Cao Ư và và Nguyễn Thị D đã chi trả.

* Ý kiến của UBND xã Đ (nay là xã Đ):

Năm 2015 bà Nguyễn Thị D nhận chuyển nhượng thửa đất số 181 diện tích 325m² tờ bản đồ số 8 của ông Trần Quốc Đ bà Trần Thị M thôn N, xã Đ. Hiện trạng thửa đất lúc bà D nhận chuyển nhượng còn là đất ruộng chưa bồi nên rau chuối um tùm. Nhưng 3 phía giáp ranh thửa đất của bà D đã được các hộ làm nhà trước đó nhiều năm và ở ổn định. Khi nhận chuyển nhượng đất, bà D không đề nghị cán bộ địa chính và thôn giao nhận đất tại thực địa mà chỉ hai bên giao nhận với nhau.

Đến năm 2017, gia đình bà Nguyễn Thị D bơm cát để bồi nền. Năm 2021, gia đình bà Nguyễn Thị D thuê máy múc đào xây móng nhà có tác động đến hệ thống thoát nước của gia đình ông Trần Ngọc H (phía đông) làm cho ông thoát nước thải của gia đình ông H bị vỡ (gia đình ông H làm nhà từ năm 1999). Khi gia đình bà D làm móng nhà xong vẫn không làm lại hệ thống ống thoát nước cho gia đình ông H. Ông H phải đi mua ống mới về thay lắp lại toàn bộ hệ thống ống thoát nước.

Ngày 27/5/2022, UBND xã nhận được đơn đề nghị của gia đình bà Nguyễn Thị D. Ngày 09/6/2022, UBND xã thành lập đoàn công tác mời bà D và ông H về làm việc và tiến hành kiểm tra hiện trạng. Qua buổi đo đạc hiện trạng đoàn công tác mời các hộ gia đình giáp ranh cùng tham gia giám sát và đo đạc thực tế từng hộ. Kết quả đo đạc hiện trạng so với bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ hiện trạng gia đình ông Nguyễn Văn V1 nằm phía tây giáp đất bà Nguyễn Thị D đã xây một góc móng nhà 0,30m (chiều ngang) lấn chồng lên đất của bà D. Khi nhà bà D làm móng nhà không xác định được diện tích của gia đình ông H (phía đông) nên đã xây móng nhà góc phía đông nam lấn chồng lên 0,15/0,30m đất của gia đình ông H để lại để mở cửa sổ và quy hoạch hệ thống thoát nước giáp với đất của gia đình bà D.

Nguồn gốc sử dụng đất của các hộ gia đình giáp ranh,gia đình ông Trần Văn V được giao đất từ năm 1993 giáp đất phía tây của gia đình bà D, gia đình ông H được nhà nước giao đất từ năm 1997, đến năm 1999 ông H làm nhà ở phía đông nam giáp đất bà D. Đất của bà D là nhận chuyển nhượng. Gia đình ông Trần Văn V hộ liền kề phía tây đã làm nhà lấn sang đất nhà bà D 0,30m, gia đình bà D làm móng nhà lấn chồng lên đất của ông H 0,15m.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn ông Trần Cao Ư, bà Nguyễn Thị D thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX giải quyết về xác định mốc giới thửa đất của gia đình ông Ư và bà D giáp với đất của ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị S, cụ thể: Xác định mốc giới của thửa đất cạnh phía nhà ông Trần Ngọc H tại điểm phía đông (có vị trí giáp nhà, giáp tường nhà, tường rào nhà ông H). Trong đó một phần nhà bếp và nhà vệ sinh nhà ông H xây trên đất của gia đình ông Ư, bà D là 0,7m² ông H, bà S đã xây dựng trước khi ông Ư bà D nhận chuyển nhượng đất. Mốc giới phía Bắc tính từ điểm góc cuối cùng đất nhà ông Ư bà D lùi vào phần tường nhà công trình phụ, nhà vệ sinh nhà ông H, bà S khoảng cách là 0,63m kéo một đường thẳng xuống phía nam sát tường bao nhà ông H, bà S. Đề nghị buộc ông H, bà S tháo dỡ phần tường nhà vệ sinh, công trình phụ, hệ thống ống thoát nước diện tích là 10,4m² + 0,7m² theo sơ đồ đo hiện trạng ngày 18/9/2025; Đề nghị xem xét mốc giới giáp ranh giữa hai nhà, không đề nghị xem xét về giá trị tài sản tranh chấp.
  • Đối với các kết quả thẩm định đo đạc trước đây do việc đo đạc các cạnh của hai thửa đất chưa chính xác về mốc giới. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử lấy kết quả đo vẽ ngày 18/9/2025 được thể hiện tại sơ đồ hiện trạng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
  • - Bị đơn ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị S không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để giải quyết, hiện trạng sử dụng đất. Mốc giới phía bắc giáp nhà ông Ư bà D là bức tường nhà công trình phụ đã xây từ năm 1997 trước khi nhà ông Ư bà D mua đất.Ranh giới quyền sử dụng đất của gia đình ông là bức tường nhà bếp và nhà vệ sinh kéo ra phía nam là một đường thẳng, cách nhà ở và tường rào nhà ông khoảng cách 0,29m (ranh giới chiều dài 21,94m) gia đình ông để lại làm hệ thống ống thoát nước. Đối với phần nhà ông Ư, bà D làm trên đất nhà ông H, bà S do đã làm nhà kiên cố nên ông H, bà S không đề nghị nhà ông Ư, bà D phải tháo dỡ hoặc bồi thường về giá trị.Đề nghị xem xét mốc giới giáp ranh giữa hai nhà, không đề nghị xem xét về giá trị tài sản tranh chấp.
  • Sau nhiều lần đo vẽ thẩm định nhưng vẫn không thống nhất được mốc giới tranh chấp. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử lấy kết quả đo vẽ ngày 18/9/2025 được thể hiện tại sơ đồ hiện trạng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa đã Quyết định:

Căn cứ:

  • - Khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 158, Điều 165; Điều 244; Điều 271; 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
  • - Căn cứ vào các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 12, Điều 166, Điều 170,Điều 171, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 11, Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai năm 2024;
  • [1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
  • - Xác định ranh giới quyền sử dụng đất nhà ông Trần Cao Ư, bà Nguyễn Thị D tại thửa đất số 181, tờ bản đồ số 10 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 349242, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01842 cấp ngày 02/10/2015 và thửa đất số 134, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO380400, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00494 cấp ngày 10/6/2009 của ông Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị S là một đường thẳng theo chiều B – N. Mốc giới cạnh phía Bắc là điểm cuối cùng đất nhà ông Ư bà D kéo dài theo bức tường nhà bếp, nhà vệ sinh nhà ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị S kéo xuống điểm mốc giới phía Nam là bức tường bao nhà ông Trần Ngọc H bà Nguyễn Thị S chiều dài 21,94m.
  • - Phần tường nhà chính nhà ông U bà D đã xây dựng kiên cố trên đất của ông H, bà S được giữ nguyên hiện trạng.
  • Có sơ đồ kèm theo.
  • [2]. Chi phí tố tụng: Ông Ư, bà D phải chịu chi phí tố tụng là 9.020.000 đồng được trừ vào số tiền chi phí đã nộp. Ông H, bà S có trách nhiệm hoàn trả cho ông Ư, bà D số tiền 9.020.000 đồng chi phí tố tụng mà ông Ư, bà D đã nộp.
  • Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 07/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa ban hành Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS, kháng nghị đối với bản án dân sự sơ thẩm số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Không chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D về yêu cầu buộc gia đình ông Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị S phải tháo dỡ, di dời đường ống nước thải sinh hoạt lắp đặt trên đất của gia đình ông Trần Cao Ư và tháo dỡ tường nhà vệ sinh, công trình phụ gia đình ông H xây dựng đã lấn sang phía đất gia đình ông Trần Cao Ư.
  • - Ngày 02/10/2025 và ngày 06/10/2025, Nguyên đơn ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
  • Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết các vấn đề sau:
    • + Hủy bỏ số đo trên vi tính 0,84m không phải là số đo hiện trạng thực tế.
    • + Đề nghị gia đình ông H, bà S tháo bỏ tường nhà vệ sinh xây lấn sang nhà ông Ư, bà D với chiều dài là 1,12m, chiều rộng là 0,33m, trả lại đúng hiện trạng QSDĐ nhà nước giao cho gia đình ông bà.
    • + Hủy 1,9m² nhà ông Ư, bà D không xây lấn sang đất của ông H, bà S và hủy 10,40m² rãnh nước của nhà ông bà khi tòa sơ thẩm giao cho ông H.
    • + Yêu cầu ông H cung cấp Giấy chứng nhận QSDĐ và bản đồ địa chính gốc có dấu đỏ pháp lý.
    • + Yêu cầu xem xét lại phần đất của nhà ông H khi mua 02 mảnh đất vào hai thời điểm khác nhau (Phía Nam là đất được cấp và phía Bắc mua chung với nhà ông Nguyễn Văn H1 thuộc lô đất khác), đến năm 2004 nhà nước đo lại hợp nhất thành 01 thửa có số diện tích như hiện nay là 519m².
    • + Xem xét lại tiền thẩm định và đo đạc (18.040.000đ), nếu bên nào sai thì bên đó phải chịu hoàn toàn, không đồng ý chia đôi theo như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên nội dung kháng nghị. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án, không đương sự nào cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • - Về nội dung: Bản án sơ thẩm nhận định: hai thửa đất đều được cấp Giấy CNQSD đất, hai bên gia đình khi sử dụng không bàn giao mốc giới cụ thể nhưng đã xây tường ở ổn định. Nên phần tường xây năm 1999 là mốc giới của 2 nhà ở điểm đầu cạnh bắc. Hình thể của hai thửa đất tại vị trí giáp ranh giữa hai nhà theo Giấy CNQSD đất và hồ sơ địa chính đều thể hiện là 1 đường thẳng. Ghép sơ đồ hiên trạng với sơ đồ địa chính thấy phần tường công trình phụ nhà ông H nằm trên đất nhà ông Ư, phần tường nhà ông U nằm trên đất nhà ông H. Tuy nhiên nội dung khởi kiện của cả 2 đương sự thì không có nội dung nào khởi kiện về xác định mốc giới mà chỉ yêu cầu trả lại đất lấn hiếm và tháo dỡ các công trình trên đất. Nhưng phần quyết định của bản án xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn xác định mốc giới của 2 thửa đất theo hiện trạng sử dụng. Như vậy kháng nghị của VKSND khu vực 5 với nội dung Tòa án tuyên không đúng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
  • Nguyên đơn kháng cáo cho rằng khi xét xử Thẩm phán đã ban hành 02 bản án và có một số nội dung khác nhau. Xét thấy việc ban hành 02 bản án trong cùng một nội dung xét xử là vi phạm tố tung nghiêm trọng và không thể khắc phục được.
  • Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS quyết định:
    • + Hủy Bản án sơ thẩm số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
    • + Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Cao Ư, bà Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo trong hạn, các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp; nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa:

Tại phần nhận định của Bản án sơ thẩm có nêu: “Đối với các yêu cầu buộc tháo dỡ 0,7m² tường nhà bếp, nhà vệ sinh và tháo dỡ hệ thống ống thoát nước nhà ông H, bà S nằm trong phần ranh giới quyền sử dụng đất của nhà ông H, bà S nên không được cấp nhận”;

Tuy nhiên trong phần quyết định của Bản án không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Như vậy, Bản án sơ thẩm tuyên không đầy đủ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.

Do vậy kháng nghị của Viện Kiểm Sát nhân dân khu vực 5 là có cơ sở.

[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn đề nghị hủy Bản án sơ thẩm:

[3.1]. Kháng cáo đề nghị hủy Bản án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Kèm theo đơn kháng cáo, đơn trình bày, đơn kháng cáo bổ sung - nguyên đơn cung cấp 02 bản án số 80/2025/DSST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 mà nguyên đơn được nhận có một số nội dung khác nhau:

  • - Phần nội dung đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa của hai bản án khác nhau:
  • + Tại Bản án nguyên đơn nhận lần 1 có nội dung:
  • Căn cứ hình thể hiện trạng sử dụng đất, lồng ghép bản đồ địa chính xã Đ cho thấy, ranh giới hiện trạng sử dụng của gia đình của ông Trần Cao Ư bà Nguyễn Thị D có lấn sang phần đất nhà ông H, bà S. Diện tích đất hiện trạng nhà ông Ư, bà D là 325m² so với diện tích được cấp trong GCNQSD đất năm 2015 thì gia đình ông Ư, bà D còn thiếu 2,6m²; gia đình ông H, bà S là 588,7m², so với diện tích theo GCNQSD đất năm 2019 là 591m², thiếu 2,3m². Cả hai nhà đều thiếu so với số đo các cạnh trong hồ sơ quản lý đất đai (bản đồ địa chính). Ghép sơ đồ hiện trạng với sơ đồ địa chính xã nhận thấy một phần tường nhà công trình phụ của ông H, bà S nằm trên đất của ông Ư bà D, và một phần tường nhà của ông Ư, bà D nằm trên đất của ông H, bà S.
  • Gia đình ông Ư, bà D khi nhận chuyển nhượng không thực hiện bàn giao đất cụ thể vị trí mốc giới. Trước khi nhà ông Ư, bà D đến ở thì ba bên nhà ông Ư, bà D trong đó cạnh tiếp giáp nhà ông H, bà S đã làm công trình phụ, tường nhà chính, sau đó nhà ông H bà S xây tường rào bao quanh khu đất. Hình thể theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ địa chính thì cạnh tiếp giáp hai hộ là một đường thẳng. Do vậy căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất để xác định mốc giới của hai nhà. Cụ thể mốc giới phía bắc của hai thửa đất là bức tường nhà bếp công trình phụ của gia đình ông H và bà S đang sử dụng, mốc giới cạnh nam là tường bao nhà ông H bà S đã xây kéo dài theo chiều B - Nam là một đường thẳng chiều dài 21,94m để xác định ranh giới hai gia đình.
  • Căn cứ Điều 12, Điều 166, Điều 170,Điều 171, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 11, Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 – Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D về việc xác định mốc giới giáp ranh của hai thửa đất tranh chấp. Lấy cạnh tường nhà ông H, S (phía Bắc) là bức tường nhà công trình phụ (làm năm 1999) là mốc giới và tường bao hiện trạng (phía nam) nhà ông H, bà S làm mốc giới giữa hai nhà kéo một đường thẳng theo chiều Bắc-Nam (chiều dài 21,94m). Hai gia đình được quyền sử dụng phần đất trong phạm vi ranh giới đất thuộc quyền sở hữu của gia đình mình. Phần nhà ông Ư, bà D là công trình nhà kiên cố trên phần đất nhà ông H, bà S được giữ nguyên hiện trạng, không buộc phải tháo dỡ. Chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của ông Ư, bà D được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng theo quy định. Về án phí: Buộc các bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  • + Tại bản án lưu trong hồ sơ vụ án và bản án nguyên đơn nhận lần 2 có nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 349242, số cấp giấy CH 01842 cấp ngày 02/10/2015 đứng tên giấy chứng nhận ông Trần Cao Ư và bà Nguyễn Thị D diện tích 325m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 380400, số vào sổ cấp giấy H00494 cấp ngày 10/6/2009 đứng tên giấy chứng nhận hộ ông Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị S diện tích 591m². Về kết quả đo vẽ tại bản vẽ đo đạc hiện trạng và Biên bản thẩm định thể hiện số đo vị trí giáp ranh, số đo phần đất tranh chấp chưa thống nhất về số liệu. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 259 BLTTDS, đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ số đo các cạnh tại phần đất tranh chấp.
  • + Ngoài ra hai bản án có có sự khác nhau ở một số số liệu đo đạc, bản án lưu trong hồ sơ vụ án đã được chỉnh sửa lại một số câu chữ tại phận nhận định.
  • Như vậy, có căn cứ xác định việc ban hành bản án của cấp sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tụng tố tụng quy định tại Điều 266, 267, 268, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.2]. Về nội dung kháng cáo khác:

  • Hủy bỏ số đo trên vi tính 0,84m không phải là số đo hiện trạng thực tế. Đo đạc hiện trạng bị sai lệch, không có kiểm sát viên chứng kiến; Đề nghị gia đình Bị đơn (ông H, bà S) tháo bỏ tường nhà vệ sinh xây lấn sang nhà nguyên đơn (Ông Ư, bà D) với chiều dài là 1,12m, chiều rộng là 0,33m, trả lại đúng hiện trạng QSDĐ nhà nước giao cho gia đình nguyên đơn. Hủy 1,9m2 nhà nguyên đơn (Ông Ư, bà D) không xây lấn sang đất của bị đơn (ông H, bà S) và hủy 10,40m2 rãnh nước của nhà nguyên đơn (Ông Ư, bà D) khi tòa sơ thẩm giao cho bị đơn (Ông H, bà S).

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và Bản án chính, bản án gốc lưu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

  • + Thửa đất ông Trần Cao Ư, bà Nguyễn Thị D đang sử dụng là thửa số 181, tờ bản đồ số 10, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 325m2. Hiện trạng là 322,4m2 (trong đó có 10,4m2 nằm trong phần tranh chấp). Giảm so với giấy chứng nhận được cấp năm 2015 là 2,6m2.
  • + Thửa đất ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị S đang sử dụng là thửa số 134, tờ bản đồ số 8, diện tích 591m2. Hiện trạng là 588,7m2, giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2009 là 2,3m2.
  • + Gia đình ông H, bà S xây công trình trên đất trước thời điểm gia đình bà D nhận chuyển nhượng và sử dụng đất: 01 nhà cũ xây 1999, nhà chính xây năm 2009 và tường rào xây bao quanh khu đất. Trước khi nhà ông Ư, bà D đến ở thì ba bên nhà ông Ư, bà D đã xây tường, làm nhà sinh sống ổn định.
  • + Tòa cấp sơ thẩm nhận định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai hộ đều không thể hiện số đo các cạnh hai thửa đất cụ thể là bao nhiêu. Tuy nhiên theo số đo của bản đồ địa chính 2004 có thể hiện số đo các cạnh. Đối chiếu cạnh của hai thửa đất so với bản đồ địa chính: Cạnh phía Nam nhà ông Ư bà D trên theo sơ đồ hiện trạng và bản đồ địa chính là 15,2/15,3m (thiếu 0,1m); Cạnh Nam nhà ông H, bà S 15,91/16,18m (thiếu 0,27m); Cạnh phía bắc nhà ông Ư bà D là 13,97/14,06m (thiếu 0,63m); cạnh phía bắc nhà ông H bà S là 14,79/14,95m (thiếu 0,16m). Hiện trạng sử dụng đất của cả hai nhà đều thiếu so với số đo các cạnh trong hồ sơ quản lý đất đai (bản đồ địa chính). Nếu theo kết quả đo đạc hiện trạng so với bản đồ địa chính xác định hiện trạng đất của gia đình ông Nguyễn Văn V1 nằm phía tây giáp đất nhà ông Ư bà D đã xây một góc móng nhà 0,30m (chiều ngang) lấn chồng lên đất của nhà ông Ư bà D. Gia đình ông Ư bà D đã xây móng nhà góc phía đông nam lấn chồng sang đất ông H, bà S là 0,15m.
  • + Như vậy nếu căn cứ theo số liệu đo đạc của hồ sơ địa chính để ốp lên hiện trạng thửa đất thì một phần góc móc nhà của gia đình nguyên đơn xây lấn sang đất nhà bị đơn ( 0,30m chiều ngang) và một góc móng nhà của bị đơn xây lấn sang đất nhà nguyên đơn( 0,15m)
  • + Tuy nhiên khi đo đạc để xác định vị trí giáp ranh giữa hai thửa đất lại xác định vị trí phần diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng: Lấy cạnh tường nhà ông H, S (phía Bắc) là bức tường nhà công trình phụ (làm năm 1999) là mốc giới và tường bao hiện trạng (phía nam) nhà ông H, bà S làm mốc giới giữa hai nhà kéo một đường thẳng theo chiều Bắc-Nam (chiều dài 21,94m).

Do Bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không thể khắc phục tại phiên tòa cấp phúc thẩm như đã phân tích tại phần [3.1] nên có căn cứ hủy 2 Bản án số 80/2025 ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5, khi giải quyết lại vụ án Tòa cấp sơ thẩm cần làm rõ căn cứ xác định mốc giới (vị trí phần diện tích đất tranh chấp).

[3] Về án dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo phúc thẩm được chấp nhận nên không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ:

Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Cao Ư, bà Nguyễn Thị D.

Hủy

Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí phúc thẩm:

Ông Ư, bà D không phải chịu án phí phúc thẩm; Trả lại cho ông Ư, bà D số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0001072 ngày 06/10/2025 của Thi hành án tỉnh Thanh Hóa.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
  • - VKSND Khu vực 5 – Thanh Hóa;
  • - TAND Khu vực 5 - Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 19/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 07/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Cao Ư khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị S trả lại cho gia đình ông diện tích đất lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger