Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HS-ST

Ngày: 06/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Ông Tạ Mạnh Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Tưởng Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2025/QĐXXST - HS ngày 22/12/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN QUỐC V; sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số nhà B, tổ E, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường P, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tham gia Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Tuấn S - sinh năm 1955; Con bà: Khổng Thị T - sinh năm 1957; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Ninh Thị L - sinh năm 1989; Con: Có 02 con; lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 12/4/2017, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt ngày 10/10/2018, đã xóa án tích).
  • Ngày 22/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt ngày 29/10/2020, đã xóa án tích).
  • Ngày 09/5/2012, bị Ủy ban nhân dân quận H áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng và quyết định quản lý sau cai nghiện 24 tháng tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy số 02, Sở Lao động thương binh xã hội thành phố H.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: NGUYỄN THÀNH P; sinh năm 1970; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số nhà B, ngõ B, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (nay là phường Đ, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tham gia Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Xuân Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1947; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thanh Đ1 - sinh năm 1975; Con: Có 02 con; lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 01/05/1999, bị Công an quận T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 06/03/2018, bị Công an phường M, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: LÊ MẠNH T2; sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Tổ G, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường Y, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tham gia Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Lê Văn T3 - sinh năm 1952; Con bà: Nguyễn Thị C - sinh năm 1957; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Không có; Con: Có 01 con, sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/12/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2022, đã xóa án tích).

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: VŨ CHÍ T4; sinh năm 1978; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số nhà D, ngõ A, đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (nay là tổ A, phường Đ, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tham gia Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Vũ Thanh B (đã chết); Con bà: Đỗ Thị D - sinh năm 1955; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị L1 - sinh năm 1986; Con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 14/7/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chấp hành xong hình phạt ngày 24/5/2006, đã xóa án tích).
  • Ngày 25/12/2015, bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2018, đã xóa án tích).
  • Ngày 25/01/2021, bị Công an phường N, quận T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Chí T4 (sinh năm 1978; trú tại số nhà D, ngõ A, đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội) là đối tượng nghiện chất ma tuý. Để có tiền mua ma túy sử dụng, T4 đã nhiều lần đi mua ma túy của đối tượng không quen biết để về bán lại cho người khác kiếm lời. Kết quả điều tra xác định trong thời gian từ ngày 21 - 24/6/2025, T4 đã một lần bán ma túy cho nhóm đối tượng Nguyễn Thành P, Lê Mạnh T2, Nguyễn Quốc V để tổ chức sử dụng và 01 lần mang ma túy trong người để đem bán cho người khác, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Cụ thể như sau:

1. Hành vi bán ma túy ngày 21/6/2025 của Vũ Chí T4 và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thành P, Lê Mạnh T2, Nguyễn Quốc V

Nguyễn Thành P (sinh năm 1970; trú tại số nhà B, ngõ B, đường T, quận N, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Quốc V (sinh năm 1987; trú tại số nhà B, tổ E, phường P, quận H, phường P, thành phố Hà Nội) cùng làm bảo vệ tại Tòa nhà SDU ở số A, đường T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội).

Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2025, P gọi điện thoại cho V rủ đi mua ma túy H về cùng nhau sử dụng và hẹn P đến đón tại đầu phố chợ P, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, V đồng ý và điều khiển xe máy hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29T1-620.35 đi đón P. Khi đi trên phố Q qua Nhà thi đấu H1 thì V nhìn thấy người quen là Lê Mạnh T2 (sinh năm 1980; trú tại tổ G, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) đi bộ ven đường. V dừng lại rủ T2 đi đón P rồi cùng đi kiếm tiền mua ma túy loại Heroin để sử dụng. T2 đồng ý và lên ngồi sau xe máy để V chở đến khu vực đầu chợ P1, phường T, quận N, thành phố Hà Nội để đón P, rồi cả ba cùng đi đến trước cổng Học viện B1 vào quán ven đường ngồi uống nước. Tại đây, V cùng T2 và P được một người phụ nữ không quen biết thuê chuyển nhà với giá 600.000 đồng (mỗi người 200.000 đồng). Nhận được tiền công, nhóm V bàn bạc và thống nhất mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma tuý về cùng sử dụng. Sau đó, cả ba đi xe máy về tòa nhà SDU ở số A, đường T, phường V, quận H để P vào làm việc; còn V và T2 đi tiếp đến khu vực T, quận N để mua ma túy. Trên đường đi, do đều là đối tượng nghiện ma túy nên T2 biết Vũ Chí T4 bán ma túy. T2 đã sử dụng điện thoại di động của V để gọi cho T4 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý loại Heroin, T4 đồng ý. Sau đó, T4 đi xe ôm từ nhà đến cây xăng ở khu vực ngõ D, đường N, phường T, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy H về bán lại cho T2 để kiểm lời. T4 đến đầu ngách D, đường N thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ nhân thân, lai lịch) 01gói giấy bạc bên trong chứa ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Mua xong, T4 đi về nhà lấy một phần Heroin trong gói giấy bạc vừa mua được ra để sử dụng, phần ma túy còn lại T4 vẫn để trong gói giấy bạc gói lại, rồi lấy một tờ giấy vệ sinh bọc bên ngoài để bán cho T2.

Sau khi gọi điện thoại cho T4 để mua ma túy, V và T2 đi đến cửa hàng bán thuốc tây tại khu vực phường M, quận H, V vào mua 03 xi lanh cùng 02 lọ nước dung dịch novocain cất vào túi quần và đưa cho T2 300.000 đồng để trả tiền ma túy. Cả hai đi đến cầu T thì T2 tiếp tục mượn điện thoại của V để gọi T4 và được T4 hẹn đến nhà riêng ở số D, ngõ A, đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội để giao ma túy. Khi T2 và V đến trước cổng nhà T4 thì T4 cầm 01 gói ma túy Heroin bọc bằng giấy trắng được cuộn bên ngoài bằng giấy vệ sinh đưa cho T2. T2 nhận hàng và trả T4 300.000 đồng.

Mua ma túy xong, V điều khiển xe máy chở T2 về cửa tầng hầm tòa nhà SDU gặp P. T2 đưa cho V gói ma túy H để V cầm đi vào nhà vệ sinh tầng K của toà nhà pha gói H cùng lọ nước dung dịch vào 03 xilanh. Cùng lúc này, P và T2 cũng đi vào nhà vệ sinh thì V đưa cho T2 và P mỗi người 01 xilanh, cả ba người cùng sử dụng ma túy bằng hình thức chích ma túy. Sử dụng ma túy xong, P và T2 đi ra thang máy, V cầm 03 xilanh vừa sử dụng cho vào túi nilon bỏ vào xe rác ở bên ngoài chung cư rồi quay xuống tầng 1 vào phòng trực Camera. Khi T2 và P đi thang máy xuống để ra về thì T2 bị sốc thuốc và ngất xỉu một lúc rồi tỉnh dậy đi về nhà, còn V và P tiếp tục làm việc.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường V, quận H đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng là 01 lọ thủy tinh màu trắng có kích thước (3,5x01)cm, bên ngoài có in chữ Novocain.

Ngày 24/6/2025, T2 cùng P và V đến Công an phường V, quận H đầu thú và khai nhận hành vi chung tiền mua ma túy để sử dụng tại nhà vệ sinh tầng K của tòa nhà SDU.

2. Hành vi bán ma túy ngày 24/6/2025 của Vũ Chí T4

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/6/2025, T4 đi xe ôm từ nhà đến cây xăng ở khu vực ngõ D, đường N (đoạn đối diện phố L), quận T, thành phố Hà Nội) với mục đích tìm mua ma túy loại Heroin về sử dụng và bán lại cho người khác. Đến nơi, T4 gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 300.000 đồng được 03 gói ma túy Heroin được bọc bằng giấy bạc đựng trong 01 túi nilon màu xanh. Mua xong, T4 cất ma túy vào trong túi quần bên phải của mình rồi đi xe ôm về nhà. Khi về đến đầu ngõ, T4 xuống xe đi bộ vào nhà thì bị công tác của Công an thành phố H phối hợp với Công an phường T kiểm tra hành chính, phát hiện trong người T4 có 03 gói ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 24/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Chí T4 tại số nhà D, ngõ A, đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.

Vật chứng vụ án đã thu giữ:

Quá trình bắt quả tang Vũ Chí T4 và điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ vật chứng, đồ vật liên quan, gồm:

  • Thu giữ của Vũ Chí T4: 01 túi nilon màu xanh có kích thước (11x07)cm đựng 03 gói giấy bạc cùng kích thước (1,5x0,5)cm, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu V2 màu đen, bên trong lắp sim số 0964476054.
  • Thu giữ của bị cáo Nguyễn Quốc V: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, bên trong lắp sim số 0966745107.
  • Thu giữ tại nơi các đối tượng sử dụng ma túy: 01 lọ thủy tinh màu trắng có kích thước (3,5x01)cm, bên ngoài có in chữ Novocain, bên trong không chứa dung dịch.

Tại bản Kết luận giám định số 3721/KL-KTHS ngày 04/7/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H đối với vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Vũ Chí T4, kết luận: “...Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc (để trong 01 túi nilon màu xanh) đều là ma túy loại Heroin, khối lượng là 0,286 gam”.

Tại bản Kết luận giám định số 3722/KL-KTHS ngày 04/07/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận: “……… 01 lọ thủy tinh kích thước (3,5x01)cm, có in chữ Novocain không dính chất ma túy”.

Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Vũ Chí T4 khai nguồn gốc số ma túy bán cho người khác, là do T4 mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu ngách D, đường N, phường T, thành phố Hà Nội với giá 600.000 đồng. Ngoài lời khai của T4 thì không có tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh người bán ma túy cho T4 để xử lý theo pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 204/CT-VKS-HS ngày 16/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội đã truy tố Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội đã truy tố Vũ Chí T4 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; các bị cáo đều có thái độ ăn năn, hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên duy trì quyền công tố: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu khác có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với 04 bị cáo.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Quốc V mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú ngày 24/6/2025.
  • Bị cáo Nguyễn Thành P mức án từ 08 năm đến 09 năm tù Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú ngày 24/6/2025.
  • Bị cáo Lê Mạnh T2 mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú ngày 24/6/2025.

- Đối với bị cáo Vũ Chí T4: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú ngày 24/6/2025.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T;
  • 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Chí T4; đồng chí Lê Minh Đ2 – Cán bộ điều tra phòng P2; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Nguyễn Quốc V.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Vũ Chí T4.

- Buộc bị cáo Vũ Chí T4 phải truy nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo phạm tội mà có.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận đầu thú, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận:

  • Từ ngày 21 - 24/6/2025, Vũ Chí T4 đã 02 lần mua ma túy của đối tượng không quen biết để bán lại kiếm lời. Trong đó lần thứ nhất vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 21/6/2025, tại nhà riêng của T4 ở số D, ngõ A, đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, T4 bán cho nhóm Nguyễn Thành P, Lê Mạnh T2 và Nguyễn Quốc V 300.000 đồng tiền ma túy loại Heroin và lần thứ hai vào khoảng 18 giờ 55 phút ngày 24/6/2025, khi T4 đang cất giấu trong người 03 gói ma túy loại Heroin có tổng trọng lượng 0,286 gam để bán cho người khác thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
  • Ngày 21/6/2025, Nguyễn Thành P cùng Lê Mạnh T2 và Nguyễn Quốc V góp chung được 300.000 đồng để mua 01 gói ma túy loại Heroin của Vũ Chí T4. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, V cùng T2 và P chuẩn bị dụng cụ và rủ nhau vào nhà vệ sinh tầng K, tòa nhà SDU ở số A, đường T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để cùng sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức chích vào cơ thể.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Chí T4 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc quản lý, trao đổi chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2 đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội; bị cáo Nguyễn Quốc V có ông nội là ông Nguyễn Văn K và bố đẻ là ông Nguyễn Tuấn S được tặng huân chương kháng chiến, gia đình bị cáo V có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ đã già yếu là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T;
  • 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Chí T4; đồng chí Lê Minh Đ2 – Cán bộ điều tra phòng P2; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T.

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Nguyễn Quốc V.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Vũ Chí T4.

Buộc bị cáo Vũ Chí T4 phải truy nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo phạm tội mà có.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 45; 46; 47, 106, 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;

1- Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo Vũ Chí T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2- Điều luật áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Quốc V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2025.
  • + Bị cáo Nguyễn Thành P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2025.
  • + Bị cáo Lê Mạnh T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2025.

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Chí T4 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2025.

3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T;
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Chí T4; đồng chí Lê Minh Đ2 – Cán bộ điều tra phòng P2; đồng chí Trương Trọng V1 – Giám định viên phòng PC09, Công an T.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Nguyễn Quốc V.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, bên trong lắp một sim, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Vũ Chí T4.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa cơ quan Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hà Nội

- Buộc bị cáo Vũ Chí T4 phải truy nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo phạm tội mà có.

4- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2, Vũ Chí T4 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/HS-ST ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 07/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thành P và Lê Mạnh T2 có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger