Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

Bản án số: 07/2026/HSST

Ngày 13-01-2026

Mẫu số 27-HS (Ban hành theo NQ số 05/2017/NQ-HĐTP)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Duệ
Ông Phan Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Vận - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Quang Văn Dù - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, Nghệ An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lô Văn C. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 06/11/1995 tại xã H, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Nghệ An.
Căn cước công dân số: 040095007094. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 6/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lô Văn C1 (đã chết) và bà Lữ Thị H. Vợ là Lô Thị M và có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T - Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Người bị hại: Bà Hà Thị H1. Sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 12/8/2025, Lô Văn C trú tại bản Cướm, xã H, tỉnh Nghệ An đi đến quán tạp hóa của bà Hà Thị H1, sinh năm 1964 (trú cùng bản với C) để hỏi vay bà H1 số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) nhưng bà H1 nói không có. Sau đó C mua với bà H1 một chai nước ngọt và uống tại quán của bà H1. Một lúc sau, bà H1 nói C đi về để bà H1 đóng quán đi công việc thì C đi ra ngoài quán. Do trong lúc mua nước ngọt để uống C thấy bà H1 bỏ tiền bán hàng vào trong tủ kính ở quán và không rút chìa khóa nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà H1. Khi thấy bà H1 đi ra khỏi quán, C lén lút đi xuống phía sau quán tạp hóa của bà H1 rồi trèo lên và chui vào trong quán qua ô thưng không có ván từ trước. Khi vào được bên trong quán, C đi đến chiếc giường nơi bà H1 thường nằm ngủ lấy một chiếc chăn trùm đầu lại với mục đích để che mặt khỏi C2 phát hiện. Sau đó C đội chăn đi đến tủ kính nơi C trước đó thấy bà H1 cất tiền rồi dùng tay vặn khóa mở tủ kính ra và lấy các túi đựng tiền. Sau khi đã lấy được các túi đựng tiền để trong tủ, C quay lại giường cất chăn lại vị trí cũ và chui ra ngoài theo lối đã vào trước đó. Sau đó C đi vào trong vườn cây sắn ở bên cạnh quán tạp hóa của bà H1 rồi mở các túi vừa trộm được ra lấy toàn bộ tiền và hộp đựng vàng màu đỏ cam ra bỏ vào phần áo trước ngực cuốn bọc lại rồi trèo rào ra ngoài và chạy về hướng nhà của C, do lúc đó trời tối, tâm lý lo sợ bị người khác phát hiện nên C chỉ vội lấy tài sản để chạy không nhớ rõ là đã lấy tiền ở túi nào và vàng ở túi nào mà chỉ nhớ là có hai chiếc túi đeo chéo và một chiếc ví vải. C chạy ra bờ khe lội qua khe men theo đường mòn dọc bờ khe để về nhà, C đi ra phía sau một căn nhà bỏ hoang ở cạnh nhà của C, tại đây C bỏ số tài sản trộm cắp được trước đó ra kiểm tra thì thấy trong số tiền đó được phân ra thành hai bó khác nhau (mệnh giá tiền khác nhau) và trong hộp màu đỏ cam có hai chiếc khuyên tai màu vàng. Chuẩn cất giấu tài sản đã trộm cắp được bằng cách đào một chiếc hố và bỏ toàn bộ số tài sản trên xuống rồi lấp đất lại và đặt một viên gạch lên trên để làm dấu, sau đó C đi về nhà lấy đèn pin đi soi ếch đến sáng mới về. Tối cùng ngày 12/8/2025, có người đến mua hàng nên bà H1 mở tủ ra để lấy tiền phụ cho khách thì phát hiện bị mất toàn bộ tiền và hộp đựng vàng mà bà để trong tủ trước đó. Ngày 16/8/2025, bà H1 đã trình báo sự việc đến Công an xã H, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 18/8/2025, Lô Văn C đến Công an xã H để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội, giao nộp tổng số tiền 3.724.000đ và 01 hộp nhựa màu đỏ cam bên trong có 02 chiếc khuyên tai đã trộm cắp trước đó của bà Hà Thị H1.

Biên bản mở niêm phong vật chứng xác định tiền thật, giả và niêm phong lại ngày 21/8/2025 tại Ngân hàng N chi nhánh Q, tây Nghệ An có kết quả xác định: Số tiền liệt kê trong biên bản là tiền thật, tiền Ngân hàng N1.

Kết luận giám định số 6885/KL-KTHS ngày 16/9/2025 của V - Bộ C3 kết luận: 02 (hai) chiếc khuyên tai màu vàng thu giữ của Lô Văn C gửi giám định có tổng khối lượng 1,87 gam đều là vàng (Au); hàm lượng Au trung bình 99,95%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã H, tỉnh Nghệ An kết luận: Hai chiếc khuyên tai có tổng khối lượng 1,87 gam đều là vàng (A), hàm lượng Au trung bình 99,95% vào thời điểm 12/8/2025 có giá trị là 5.819.000đ; một chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu AISINI vào thời điểm 12/8/2025 có giá trị là 50.000đ; một chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu LONDONFOG vào thời điểm 12/8/2025 có giá trị là 50.000đ; một chiếc ví vải có thêu hoa văn màu vàng xanh đỏ vào thời điểm 12/8/2025 có giá trị là 20.000đ. Tổng giá trị tài sản là 5.939.000đ.

Tổng giá trị tài sản do Lô Văn C trộm cắp là 9.663.000đ (Chín triệu, sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Cáo trạng số 29/CT-VKSKV10 ngày 26/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Nghệ An đã quyết định truy tố Lô Văn C ra trước Tòa án để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lô Văn C từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt. Tuy nhiên người bị hại cho rằng số tiền bị chiếm đoạt là 10.000.000đ và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn thiếu là 6.276.000đ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được số tiền bị chiếm đoạt là 3.724.000đ, người bị hại không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu nêu trên, nên không có căn cứ để chấp nhận.

Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có nhiều tệ nạn xã hội phức tạp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 04 tháng 26 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người bị hại, xem xét về án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng, không có ý kiến gì trong phần tranh luận và không bổ sung thêm ý kiến gì vào bản bào chữa của người bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được vào buổi tối ngày 12/8/2025, tại quán bán hàng tạp hoá của bà Hà Thị H1 tại bản Cướm, xã H, tỉnh Nghệ An. Bị cáo đã cố ý đột nhập vào quán và lén lút trộm cắp tài sản của bà H1 gồm số tiền mặt là 3.724.000đ, 02 chiếc khuyên tai vàng trị giá 5.819.000đ, 02 chiếc túi đeo chéo vải màu đen trị giá 100.000đ, 01 chiếc ví vải trị giá 20.000đ. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 9.663.000đ (Chín triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bà H1 với tổng trị giá là 9.663.000đ (Chín triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lô Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.

[3] Xét tính chất của vụ án, vai trò của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, không chịu khó lao động sản xuất, làm ăn lương thiện mà lại muốn kiếm tiền từ hành vi phạm pháp luật. Bị cáo có đủ nhận thức nhất định để biết rằng tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng vẫn lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt nhằm phục vụ cho nhu cầu của cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng ổn định, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và thật sự ăn năn hối cải, nên xét thấy chưa cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo theo điều 65 của Bộ luật hình sự để bị cáo được cải tạo, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cùng sự phối hợp của gia đình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo vừa được cải tạo vừa ổn định cuộc sống và có cơ hội để sửa chữa sai lầm, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản và không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Hà Thị H1 đã nhận lại toàn bộ tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt gồm: Số tiền 3.724.000đ; 02 chiếc khuyên tai bằng vàng; 01 chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu AISINI; 01 chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu LONDONFOG và 01 chiếc ví vải có thêu hoa văn màu vàng xanh đỏ.

Sau khi nhận lại tài sản bà H1 cho rằng số tiền bị chiếm đoạt là 10.000.000đ nên tại phiên tòa bà H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền còn thiếu là 6.276.000đ. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được số tiền bị chiếm đoạt là 3.724.000đ, bà H1 không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó không chấp nhận yêu cầu bồi thường số tiền nêu trên của bà Hà Thị H1.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ số tiền 3.724.000đ; 02 chiếc khuyên tai bằng vàng có khối lượng 1,87 gam; 01 chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu AISINE; 01 chiếc túi đeo chéo vải màu đen nhãn hiệu LONDONFOG và 01 chiếc ví vải có thêu hoa văn màu vàng xanh đỏ là tài sản do Lô Văn C trộm cắp mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản nêu trên cho người bị hại là bà Hà Thị H1 theo quy định. Vì vậy không xem xét thêm.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Do yêu cầu bồi thường không được chấp nhận nên người bị hại là bà Hà Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lô Văn C 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/01/2026).

    Giao bị cáo Lô Văn C về cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Quyết định trả tự do cho bị cáo Lô Văn C ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

    Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Lô Văn C để đảm bảo cho công tác thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585 Bộ luật dân sự. Không chấp nhận yêu cầu của người bị hại là bà Hòa Thị H2 về việc yêu cầu bị cáo Lô Văn C bồi thường số tiền 6.276.000đ (Sáu triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lô Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Người bị hại bà Hà Thị H1 phải chịu 313.800đ (Ba trăm mười ba nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 10, VKSND t Nghệ An;
  • - Phòng KTNV,TT&TĐKT TAND t Nghệ An;
  • - Phân trại tạm giam Thái Hòa;
  • - UBND xã Hưng Châu; Công an xã Hùng Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Phòng THADS KV 10;
  • - Bị cáo; Người bị hại;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Lô Văn Linh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/HSST ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2026/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lô Văn Chuẩn phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger