TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 07/2026/HSPT Ngày: 07/01/2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang; ông Cao Việt Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 164/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Xuân K và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo: Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U; các bị hại: Trần Thanh H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn G, Nguyễn Thị M (do anh Trần Văn T đại diện); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 188/2025/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Xuân K, sinh năm 1958; Tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP L, phường T, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch UBND xã T; là Đảng viên Đ3 (đã bị khai trừ ra khỏi đảng theo Quyết định số 2108 ngày 09/9/2024 của Huyện ủy Y); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 07/12; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị K1 (đều đã chết); gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ ba; vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1959; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 25/02/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn S, sinh năm 1959; Tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP T, phường T, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch UBND xã T; là Đảng viên Đ3 (đã bị khai trừ ra khỏi đảng theo Quyết định số 2109 ngày 09/9/2024 của Huyện ủy Y); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị K2 (đều đã chết); gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ 5; vợ: Vũ Thị M1, sinh năm 1959; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 02/10/2024 được thay thế biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn U, sinh năm 1965; Tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 07/10; nghề nghiệp: nguyên Phó Chủ tịch UBND xã T; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng số 2134 ngày 18/10/2024 của huyện ủy Y); con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị C1 (đều đã chết); gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ hai; vợ: Dương Thị X, sinh năm 1966; con: có 02 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân K: Luật sư Hoàng Thị Bích L2 – Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn U: Luật sư Võ Thị An B1 – Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
Bị hại có kháng cáo:
- Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1971; có mặt.
- Ông Trần Thanh H, sinh năm 1946; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972 do ông Trần Văn T, sinh năm 1972 là người đại diện theo ủy quyền; đều có mặt.
Nơi thường trú: TDP Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965; nơi thường trú: TDP N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại Nguyễn Văn G, Trần Thanh H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Đ: Ông Triệu Hạnh H1 – Văn phòng L5, Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 06 bị hại và 10 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tuy nhiên đều không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân K giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã T giai đoạn 2004- 2009. Thời điểm này, Nguyễn Văn S là Công chức tài chính Kế toán; Nguyễn Xuân U1 là công chức văn phòng, thống kê kiêm thủ quỹ của UBND xã T.
Từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, UBND huyện Y và Đảng ủy xã T có chủ trương di dời Trường mầm non xã T ra khỏi chỉ giới quy hoạch chùa V và chuyển đến khu vực bờ máng đồi Đường L thuộc xứ đồng Đ, thôn Đ, xã T. Nguyễn Xuân K là Chủ tịch UBND xã đã tổ chức họp UBND xã và thực hiện việc thu hồi một số diện tích đất canh tác nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của các hộ dân ở xứ đồng Đường L để chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất xây dựng Trường mầm non xã T. Để có kinh phí xây dựng T1 mầm non, K đưa ra chủ trương chuyển đổi một phần diện tích phía nam của khu đất dự kiến xây dựng T1 mầm non do không dùng đến và thu hồi thêm một số diện tích đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích ở phía bắc của khu đất (nằm ngoài diện tích dự kiến xây dựng) thành đất ở để bán cho các hộ dân có nhu cầu. Sau đó, K chỉ đạo tổ chức thu hồi đất và đền bù hoa màu cho các hộ dân đang canh tác ở khu đất nông nghiệp công ích phía bắc khu đất xây Trường mầm non rồi đo đạc, khảo sát tổng thể diện tích đất để dự kiến bán đất ở cho các hộ dân. Theo dự kiến khu phía nam có 4 -5 lô, khu phía bắc có 9 lô, mỗi lô sẽ có diện tích 100m² (dài 20m, rộng 05m), giá bán mỗi lô đất từ 55 đến 60 triệu đồng.
Quá trình thực hiện, Nguyễn Xuân K trực tiếp chỉ đạo Nguyễn Văn S thực hiện việc thu các khoản tiền mà các cá nhân, hộ dân có nhu cầu, đăng ký và nộp tiền để mua đất thổ cư ở khu vực Đường L như dự kiến và chi tiêu, sử dụng các khoản tiền này.
Từ tháng 02/2009 đến ngày 26/8/2009 theo chỉ đạo của Nguyễn Xuân K thì Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn U đã trực tiếp thu tiền của 09 cá nhân với tổng số là 14 phiếu thu tương ứng với 13 lô đất được tổng số tiền 813.000.000 đồng. Cụ thể:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 trú tại: thôn Đ, xã T mua 01 lô khu vực phía nam và 01 lô khu vực phía bắc trường mầm non, số tiền nộp là 115.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã T mua 01 lô phía nam, số tiền nộp là 73.000.000 đồng
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T mua 01 lô phía nam, số tiền nộp là 55.000.000 đồng
- Ông Trần Thanh H, sinh năm1946, trú tại thôn Đ, xã T mua 01 lô khu vực phía bắc, số tiền nộp là 55.000.000 đồng
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T mua 02 lô đất ở khu vực phía bắc, số tiền nộp là 130.000.000 đồng
- Bà Vũ Thị O, sinh năm1970 cùng chồng là Nguyễn Đức H2, sinh năm 1965, trú tại thôn K, xã T, huyện Y 03 lô đất, số tiền nộp là 195.000.000 đồng
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, xã T mua 01 lô đất phía bắc, số tiền nộp là 65.000.000 đồng
- Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1968, trú tại thôn T mua 01 lô đất ở, số tiền nộp là 65.000.000 đồng
- Ông Nguyễn Văn M2 sinh năm 1967, trú thôn T, xã T mua 01 lô, số tiền nộp là 60.000.000 đồng
Khi thu tiền của những người nêu trên, Nguyễn Văn S là người trực tiếp viết phiếu thu; Nguyễn Văn U trực tiếp thu tiền và quản lý số tiền đã thu; Nguyễn Xuân K ký tên trên các phiếu thu và đóng dấu của UBND xã T để xác nhận trên các phiếu thu tiền.
Về sử dụng số tiền đã thu: Toàn bộ số tiền 813.000.000 đồng đã thu từ việc bán đất được UBND xã T sử dụng xây dựng trường mầm non xã T, lắp cống đi vào Trường mầm non và chi đắp đê.
Về việc giao đất trên thực địa: UBND xã T không tổ chức giao đất cho các hộ dân ngay sau khi thu tiền. Do thực tế không đủ diện tích để phân thành 13 lô như dự kiến nên đầu năm 2012, Nguyễn Văn S (thời điểm này là Chủ tịch UBND xã T) đã trả lại bà Vũ Thị O và bà Vũ Thị T2 mỗi người 65.000.000 đồng. Đến cuối năm 2013, Nguyễn Văn S đã chỉ đạo Nguyễn Văn U (thời điểm này là Phó Chủ tịch UBND xã T) cùng ông Vũ Văn G1 - Công chức địa chính xã T tổ chức đo đạc, cắm mốc giới và bàn giao 11 lô đất cho 08 người nộp tiền mua tại thực địa.
Kết quả đo đạc thực địa và kiểm tra hiện trạng hồ sơ địa chính xác định :
Vị trí 11 lô đất tại xứ đồng Đường L mà UBND xã T đã bán cho 08 hộ dân năm 2009 thuộc địa giới hành chính của thôn Đ, xã T và nằm trong các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 28 và 63 (bản đồ địa chính chính quy xã T); khu vực phía Nam trường mầm non xã T gồm 02 lô đất, tổng diện tích 174m² (số D và số 5 trên Sơ đồ giao đất) thuộc diện tích xây dựng Trường Mầm non; khu vực phía Bắc gồm 09 lô đất, tổng diện tích là 856m² (số từ 1 đến 9 trên Sơ đồ giao đất) là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích. Tổng diện tích của 11 lô đất là 1.030m². Toàn bộ 11 lô đều có mặt phía Đông giáp với với đường tỉnh 293 tuyến nhánh vào chùa V và không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.
Ngày 26/6/2014, UBND huyện Y đã ra Quyết định 222/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện di đời Trường tiểu học T (đợt 2); Ngày 13/8/2015, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 342/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu dân cư nông thôn tại xã T (đợt 1). Theo đó, toàn bộ diện tích 856m² của 09 lô đất phía bắc Trường mầm non xã T là đất nông nghiệp công ích nằm trong diện bị thu hồi. Kiểm tra hiện trạng cả 09 lô nằm trong diện tích xây dựng vỉa hè và đường đi vào Trường Tiểu học T và đất lưu không thuộc hạ tầng kỹ thuật (gồm các lô bán cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn G, bà Vũ Thị O, ông Trần Thanh H, Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn M2). Còn 02 lô đất ở khu vực phía nam Trường mầm non T (bán cho ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ1) nằm trong diện tích đã thu hồi để xây dựng Trường mầm non, không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; kiểm tra hiện trạng 01 lô để không và 01 lô người mua đã xây nhà cấp 4 có mái tôn.
Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ phiếu thu tiền của các hộ dân đã nộp và thu giữ của Nguyễn Văn S các Phiếu chi; hồ sơ xây dựng liên quan đến việc chi số tiền thu được từ việc bán đất; Sổ sách thống kê theo dõi các khoản thu - chi của UBND xã T năm 2009.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn U, Nguyễn Văn S trên các Phiếu thu tiền, phiếu chi tiền đã thu giữ.
Kết luận giám định số 1495/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Xuân K dưới các mục “Phụ trách kế toán”, “Thủ trưởng đơn vị”, “Chủ tịch UBND xã”, “Đại diện bên A”, “Người bàn giao” trên toàn bộ các tài liệu gửi giám định là do Nguyễn Xuân K ký ra.
- - Chữ ký, chữ viết dưới mục “Thủ quỹ” trên các tài liệu gửi giám định gồm: các phiếu thu, phiếu chi là do Nguyễn Văn U ký, viết ra.
- - Chữ viết nội dung trên các phiếu thu; Hợp đồng giao khoán; Biên bản thanh lý hợp đồng; Biên bản nghiệm thu; phiếu chi (trừ chữ viết có nội dung “400.000.000 Bốn trăm triệu đồng chẵn” trên phiếu chi ngày 26/8/2009) là do Nguyễn Văn S viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết tại mục “Người lập phiếu”, “Kế toán trưởng” trên các phiếu thu, phiếu chi; tại các mục “Các bên tham gia nghiệm thu - KT” trên các Hợp đồng giao khoán, Biên bản thanh lý hợp đồng, Biên bản nghiệm thu; tại mục “Người nhận bàn giao” trên Biên bản bàn giao bổ xung chức danh Chủ tịch UBND xã T ngày 05/12/2010 là do Nguyễn Văn S viết, ký ra.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên tài liệu là (Phiếu chi tiền, Hợp đồng nhận thầu, khoán, chữ ký, chữ viết, con dấu đóng trên các văn bản này)
Kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 17/02/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Văn Q dưới mục “Người nhận tiền” và chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn Q dưới các mục “Đại diện bên nhận khoán”, “Bên nhận thầu, nhận khoán”, “Đại diện bên B” trên các tài liệu cần giám định đều là do ông Nguyễn Văn Q ký, viết ra.
- - Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D xã T” trên các tài liệu cần giám định là hình dấu tròn mà UBND xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang sử dụng vào năm 2009.
- - Hình dấu chức danh có nội dung “T.M UBND. Xã T Chủ tịch Nguyễn Xuân K” trên các tài liệu cần giám định là hình dấu chức danh Chủ tịch UBND xã T của ông Nguyễn Xuân K được sử dụng vào năm 2009.
- - Chữ ký Nguyễn Xuân K dưới các mục “Giám đốc”, “Chủ tài khoản” trên các tài liệu cần giám định là do ông Nguyễn Xuân K ký ra.
- - Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn U dưới mục “Thủ quỹ” trên các tài liệu cần giám định là do ông Nguyễn Văn U ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định trừ các nội dung đã kết luận ở trên và chữ ký, chữ viết tại các dòng thứ 1; 2; 3 tính từ dưới lên trên tài liệu cần giám định là “Sổ nhật ký thu tiền” là do ông Nguyễn Văn S ký, viết ra.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản xác định tiền thuê đất công ích trên diện tích đất công ích mà UBND xã T bán trái thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 39 ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, tỉnh Bắc Giang kết luận:
- - Giá trị tiền thuê đất theo giá Nhà nước tại thời điểm các năm và áp dụng hệ số điều chỉnh đối với diện tích 590m² đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích (trồng lúa và trồng cây hằng năm) ở khu vực phía Bắc Trường mầm non xã T hiện nay, giáp đường tỉnh 293 thuộc xứ đồng Đ, thôn Đ, xã T, thời điểm xác định giá từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2014 là 206.500 đồng.
- - Giá trị tiền thuê đất theo giá Nhà nước tại thời điểm các năm và áp dụng hệ số điều chỉnh đối với diện tích 266m² đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích (trồng lúa và trồng cây hằng năm) ở khu vực phía Bắc Trường mầm non xã T hiện nay, giáp đường tỉnh 293 thuộc xứ đồng Đ, thôn Đ, xã T, thời điểm xác định giá từ tháng 12/2013 đến tháng 11/2014 là 239.400 đồng.
- - Giá trị tiền thuê đất theo giá Nhà nước tại thời điểm các năm và áp dụng hệ số điều chỉnh đối với diện tích 266m² đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích (trồng lúa và trồng cây hằng năm) ở khu vực phía Bắc Trường mầm non xã T hiện nay, giáp đường tỉnh 293 thuộc xứ đồng Đ, thôn Đ, xã T, thời điểm xác định giá từ tháng 12/2014 đến tháng 8/2015) là 119.700 đồng.
Tổng giá trị tiền thuê đất theo giá Nhà nước tại thời điểm các năm và áp dụng hệ số điều chỉnh đối với diện tích đối với diện tích 590m² và 266m² đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích (trồng lúa và trồng cây hằng năm) ở khu vực phía Bắc Trường mầm non xã T hiện nay, giáp đường tỉnh 293 thuộc xứ đồng Đ, thôn Đ, xã T trong khoảng thời gian nêu trên là 565.600 đồng.
Riêng 02 lô phía nam có diện tích 174m² đã được cơ quan có thẩm quyền thu hồi từ trước để làm T1 Mầm non nên việc bán đất ở diện tích này không có thiệt hại cho UBND xã T, Cơ quan điều tra không yêu cầu định giá để xác định thiệt hại.
Đối với nội dung chi số tiền bán đất ở, Cơ quan điều tra đã làm việc với Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Y và xác định các nội dung chi cho các hoạt động của UBND xã từ số tiền này không gây thất thoát gì.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Năm 2012, Nguyễn Văn S đã dùng tiền của cá nhân để trả lại bà Vũ Thị O và bà Vũ Thị T2 mỗi người 65.000.000 đồng. Khoảng giữa năm 2012, vợ chồng bà Vũ Thị O, ông Nguyễn Đức H2 ủy quyền cho Nguyễn Văn S cùng vợ là Vũ Thị M1 bán hộ 02 lô đất còn lại. Năm 2013, bà M1 đã bán cho ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965, trú tại thôn N, xã T 01 lô (ký hiệu lô số 6 trên Sơ đồ giao đất khu vực phía Bắc); năm 2016 bán cho ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1975 ở thôn T, xã T 01 lô (ký hiệu lô số 5 trên Sơ đồ giao đất khu vực phía Bắc). Năm 2024, ông L3 đã được bà M1 trả lại toàn bộ số tiền mua lô đất này. Lô đất ông Nguyễn Văn M2 nộp tiền mua ở phía bắc, đến năm 2016 thì bán lại cho ông Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1983, trú thôn L, xã T. Hiện Nguyễn Văn S đã thoả thuận trả lại tiền mua cho ông L3 và ông T3 đầy đủ.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền để khắc phục hậu quả, cụ thể: Nguyễn Văn S 300.000.000 đồng; Nguyễn Xuân K 80.000.000 đồng; Nguyễn Xuân U1 120.000.000 đồng.
Hiện nay những người bỏ tiền mua đất gồm bà Vũ Thị O, Vũ Thị T2, ông Nguyễn Văn M2 không có yêu cầu gì. Các ông bà Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn G, Trần Thanh H, Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Đ đều yêu cầu trả lại lô đất ở vị trí tương ứng lô đất bị thu hồi hoặc yêu cầu cá nhân vi phạm trả lại số tiền tương ứng với giá trị lô đất tại thời điểm hiện nay.
Về trách nhiệm của những người liên quan:
Ông Bùi Xuân X1 là Bí thư Đảng uỷ xã T giai đoạn 2008-2009 có tổ chức các cuộc họp để triển khai ý kiến chỉ đạo của UBND huyện Y về việc di dời trường mầm non xã T từ khu vực quy hoạch mở rộng chùa V đến xứ đồng Đường Lăng đồng thời giao cho UBND xã tổ chức thực hiện. Đảng ủy xã T không chỉ đạo, tổ chức việc bán đất và UBND xã T cũng không báo cáo việc bán đất nên không có căn cứ xử lý.
Các thành viên của UBND xã T thời điểm 2008-2009 không tham gia họp, bàn bạc hoặc trực tiếp thực hiện việc thu tiền đất, giao đất ở các lô đất tại khu Đ nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm.
Ông Vũ Trí Đ2 là công chức địa chính của UBND xã T thời kỳ cuối năm 2008 và đầu năm 2009 được Nguyễn Xuân K chỉ đạo đo đạc, khảo sát phần diện tích xây dựng Trường mầm non xã T (phía Nam Trường mầm non) còn thừa không sử dụng đến và diện tích đất công ích ở phía Bắc Trường mầm non nhưng không tham gia bàn bạc và không biết biết việc Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn U triển khai việc bán đất nên không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
Ông Vũ Văn G1 là công chức địa chính của UBND xã T vào thời điểm năm 2013 được Nguyễn Văn S là Chủ tịch UBND xã chỉ đạo cùng Nguyễn Văn U – Phó Chủ tịch UBND xã tiến hành đo đạc, cắm mốc giới 11 lô đất ở xứ đồng Đường L giao cho các hộ dân đã nộp tiền mua đất từ năm 2009 theo vị trí thể hiện trên Sơ đồ giao đất do ông S đưa cho để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định 191 ngày 27 tháng 6 năm 2012 của UBND tỉnh B. Ông G1 không tham gia bàn bạc, không biết việc thu tiền bán đất ở năm 2009 trước đó nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 188/2025/HS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt:
Nguyễn Xuân K 04 năm 06 tháng tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời hạn đã tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 25/02/2025.
Nguyễn Văn S 03 năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời hạn đã tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 02/10/2024.
Nguyễn Văn U 03 năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Cấm các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý ở cấp xã 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/9/2025, bị cáo Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Ngày 19/9/2025, bị cáo Nguyễn Xuân K và bị cáo Nguyễn Văn U có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 19/9/2025, các bị hại Trần Thanh H, Trần Văn T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn G và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ Bản án số 188/2025/HSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh. Lý do: có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố dẫn đến bỏ lọt tội phạm; Bản án sơ thẩm nhận định không khách quan, không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế và trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo K, bị cáo U giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị cáo S bổ sung yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo và các bị cáo đều trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan tuy nhiên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là quá cao so với hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ thực tế tại thời điểm đó xã T là một trong các xã nghèo nhất của huyện Y và tỉnh Bắc Giang nhưng xã không được cấp kinh phí để di dời trường mầm non mà phải tự chủ hoàn toàn. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán đất các bị cáo đều chi vào mục đích phát triển kinh tế, xã hội của địa phương (xây trường mầm non, lắp cống, đắp đê) và nhân dân được hưởng chứ các bị cáo không có mục đích tư lợi cá nhân.
- - Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đều trình bày: Không có ý kiến gì về tội danh và mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo tuy nhiên các bị hại không đồng ý nhận số tiền bồi thường mà yêu cầu UBND phường T phải trả lại đất và cấp Sổ đỏ đối với thửa đất mà họ đã mua. Các bị hại đều cho rằng UBND xã bán 14 lô đất chứ không phải 11 lô như án sơ thẩm đã quy kết, 03 lô còn lại của ông Xanh, ông S và chị T2 hiện nay đã được cấp sổ đỏ nhưng án sơ thẩm không xem đối với 03 lô này là thiếu. Bị cáo S còn có hành vi Lạm dụng chiếm đoạt tài sản vì đất đã bán cho các bị hại, sau đó thu hồi làm trường học và cam kết trả lại đất tại vị trí khác nhưng đến nay chưa trả. Như vậy án sơ thẩm nhận định không khách quan, không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của người dân, bỏ lọt tội phạm nên đề nghị huỷ án sơ thẩm để điều tra lại.
Ngoài ra, ông Đ trình bày: ông không đồng ý với quyết định của án sơ thẩm buộc bị cáo S phải trả lại ông số tiền 160 triệu đồng mà yêu cầu trả lại đất; ông mua đất có Phiếu thu của UBND xã nên ông là bị hại chứ không phải người liên quan và ông đồng ý với ý kiến của các bị hại.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của những người kháng cáo tại phiên tòa và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo về phần hình phạt; Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo K và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo S, bị cáo U; sửa một phần bản án sơ thẩm xử phạt: Bị cáo K 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giam. Bị cáo S và bị cáo U mỗi bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Các bị cáo đều không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, riêng bị cáo K chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo.
- - Luật sư L2 (bào chữa cho bị cáo K) trình bày: Đồng tình với đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra trước khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực pháp luật, trong bối cảnh chung tại thời điểm đó xã T là một trong các xã nghèo nhất của huyện Y và tỉnh Bắc Giang nhưng xã không được cấp kinh phí để di dời trường mầm non mà phải tự chủ hoàn toàn. Hơn nữa trong bối cảnh chung lúc đó các bị cáo thấy tình trạng bán đất công ích cho dân để lấy kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi tại địa phương diễn ra khá phổ biến nhưng đều không bị xử lý vì vậy các bị cáo đã thực hiện theo để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các bị cáo phạm tội nhưng đều vì lợi ích chung, không tư lợi cá nhân, thành quả hiện người dân vẫn được hưởng. Hơn nữa đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo K là chủ tịch xã nên có vai trò chính chứ không phải vai trò chủ mưu, cầm đầu. Sau khi phạm tội các bị cáo cũng như bị cáo K đã tích cực khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, một số bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến chính sách pháp luật khoan hồng của pháp luật để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo K.
- - Luật sư B1 (bào chữa cho bị cáo U) trình bày: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thâ, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ cũng như hoàn cảnh khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo U.
- - Luật sư H1 trình bày: Bản án sơ thẩm chưa làm rõ sự thật của vụ án dẫn đến làm thiệt hại cho các bị hại, cụ thể:
- + Xác định thiệt hại không đúng: Các bị cáo giao bán 14 lô đất trong đó có 03 lô đã được cấp Sổ đỏ (gồm lô của ông S1, ông S và ông Đ2) chứ không phải 11 lô. Năm 2013, khi thu hồi đất của 05 hộ dân để làm đường, UBND xã đã cam kết sẽ giao đất của các hộ sang vị trí đất liền kề, các hộ dân đã chấp hành và bàn giao mặt bằng cho Nhà nước. Như vậy khi các hộ dân đã trả lại đất cho Nhà nước thì là đất công ích chứ không phải đất của các hộ dân nữa nhưng bản án sơ thẩm vẫn tính tiền mua đất của các hộ để xác định thiệt hại là 683 triệu đồng là không đúng sự thật, sai cả về diện tích và số lô. Hơn nữa số tiền thu được từ việc bán đất, UBND xã sử dụng vào mục đích để xây dưng trường mầm non nhưng buộc các bị cáo trả lại là không đúng, các bị hại chỉ yêu cầu UBND xã phải trả lại đất và cấp Sổ đỏ.
- + Xác định sai tư cách tố tụng: Trong vụ án này, các bị hại mà chỉ là người mua đất, các bị hại yêu cầu UBND xã trả lại đất. Ngoài ra án sơ thẩm xác định ông Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng buộc bị cáo S phải trả lại 160 triệu đồng là không đúng, ông Đ mua đất có chứng từ do UBND xã thu chứ không mua của cá nhân nào cả vì vậy ông Đ phải là bị hại.
- + Ông Đ nộp tiền cho UBND xã nhưng bị cáo S không nộp vào UBND xã, sau này lại buộc bị cáo S phải trả lại ông Đ 160 triệu đồng. Ngoài ra tại Phiếu thu số 07 có dấu hiệu giả mạo chữ ký của người nộp tiền, của bị cáo K, con dấu của UBND xã về việc thu 160 triệu đồng của ông Đ. Như vậy án sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi Tham ô và hành vi Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức.
- + UBND xã T với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng chưa làm rõ quan điểm của U3.
Như vậy cấp sơ thẩm đã xác định sai sự thật, sai tư cách tố tụng, bỏ lọt tội phạm, điều tra không đầy đủ vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
- Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với quan điểm của luật sư H1, không bổ sung gì thêm.
- - Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
- + Đối với ý kiến của luật sư L2: Đã đánh giá đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và xác định bị cáo K là người có vai trò chính do vậy không đồng ý với đề nghị cho bị cáo đượng hưởng án treo.
- + Đối với ý kiến của luật sư H1: Từ tháng 02/2009 đến ngày 26/8/2009, các bị cáo thu tiền của 09 cá nhân với tổng số là 14 phiếu thu tương ứng với 13 lô đất được tổng số tiền 813 triệu đồng. Năm 2012, bị cáo S đã trả lại số tiền 02 lô là 130 triệu đồng (01 lô của bà O và bà T2) như vậy còn 11 lô, tương ứng với số tiền 683 triệu đồng. Án sơ thẩm xác định các bị có hành vi giao bán đất trái thẩm quyền gây thiệt hại cho những người mua đất và xác định những trực tiếp mua đất của xã là bị hại; ông Đ không trực tiếp mua đất của xã mà mua lại lô đất của bà O (bà O nhờ bi cáo Sức bán hộ) do vậy xác định ông Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn có căn cứ. Đối với hành vi của bị cáo S chưa đủ yếu tố cấu thành Tham ô tài sản và hành vi Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức do vậy đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm.
Các bên tham gia tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án của các cơ quan và người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo: Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U; các bị hại gồm các ông, bà: Trần Thanh H, Trần Văn T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đó có đủ cơ sở kết luận:
Thời điểm năm 2008 - 2009, Nguyễn Xuân K giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T; Nguyễn Văn S là Công chức tài chính Kế toán; Nguyễn Xuân U1 là công chức văn phòng, thống kê kiêm thủ quỹ của UBND xã T.
Từ cuối năm 2008 đến ngày 26/8/2009, Nguyễn Xuân K đã đưa ra chủ trương và chỉ đạo Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn U thu hồi trái quy định 1.030m² đất tại khu vực Đường L, thôn Đ, xã T (gồm 174m² đất xây dựng Trường mầm non và 856m² đất nông nghiệp công ích). Sau đó các bị cáo đã thu tiền được tổng số tiền 813.000.000 đồng (tổng số là 14 phiếu thu) của 09 cá nhân tương ứng với 13 lô đất ở. Cụ thể: Thu của ông Nguyễn Văn D 115.000.000 đồng (02 lô); ông Nguyễn Văn G 73.000.000 đồng (01 lô); ông Nguyễn Văn Đ1 55.000.000 đồng (01 lô); ông Trần Thanh H 55.000.000 đồng (01 lô); bà Nguyễn Thị M 130.000.000 đồng (02 lô); bà Vũ Thị O 195.000.000 đồng (03); ông Nguyễn Văn B 65.000.000 đồng ( 01 lô); bà Vũ Thị T2 65.000.000 đồng (01 lô); ông Nguyễn Văn M2 60.000.000 đồng (01 lô). Khi thu tiền của những người nêu trên, Nguyễn Văn S là người trực tiếp viết phiếu thu; Nguyễn Văn U trực tiếp thu tiền và quản lý số tiền đã thu; Nguyễn Xuân K ký tên trên các phiếu thu và đóng dấu của UBND xã T để xác nhận trên các phiếu thu tiền. Toàn bộ số tiền 813.000.000 đồng đã thu từ việc bán đất được UBND xã T sử dụng xây dựng trường mầm non xã T, lắp cống đi vào Trường mầm non và chi đắp đê.
Khoảng năm 2012, Nguyễn Văn S đã dùng tiền của cá nhân để trả lại bà Vũ Thị O và bà Vũ Thị T2 mỗi người 65.000.000 đồng (tương ứng 01 lô đất), tổng số là 130.000.000 đồng. Bà T2 và bà O không yêu cầu gì liên quan đến 02 lô đất này.
Sau năm 2013, khi đó Nguyễn Văn S là Chủ tịch đã chỉ đạo Nguyễn Văn U là Phó Chủ tịch phân thành 11 lô đất ở giao cho 08 cá nhân gồm các ông, bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn Đ1, Trần Thanh H, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị M, Vũ Thị O, Nguyễn Văn M2. Như vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền gây thiệt hại là 683.000.000 đồng.
Do vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn U phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 3 Điều 357 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây thiệt hại vật chất cho Nhà nước, cho cá nhân mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ cơ sở trong quá trình thực thi nhiệm vụ, gây mất niềm tin cho nhân dân vì vậy phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo phạm tội nhưng không có mục đích tư lợi cá nhân, đã tích cực bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại nên Bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K 04 năm 06 tháng tù, bị cáo S, U mỗi bị cáo 03 năm tù là phù hợp.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo có giao nộp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Bị cáo S: nộp Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh B năm 2011, 2014 vì bị cáo đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong phong trào thi đua năm 2011 và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2014; có anh trai là liệt sĩ Nguyễn Văn N. Bị cáo K: có thời gian dài tham gia quân đội chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, được tặng thưởng Bằng khen; tích cực tham gia ủng hộ các phong tào thiện nguyện tại địa phương như ủng hộ Quỹ vì người nghèo, tặng quà cho các em học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương. Bị cáo U: đã có công ủng hộ hiến 91m2 đất nông nghiệp và số tiền tiền 4.500.000 đồng để tu sửa khuôn viên, xây dựng nhà văn hoá cho thôn từ năm 2011; năm 2025, ủng hộ Quỹ vì người nghèo, quỹ khuyến học, xây dựng xoá nhà tạm, dột nát cho các đối tượng chính sách, hộ khó khăn; có bố đẻ là ông Nguyễn Văn L1 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy các bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo đều là người cao tuổi, tại giai đoạn phúc thẩm có nộp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên do bị cáo K có vai trò chính và cao nhất trong vụ án nên không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo mà chỉ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo U2, bị cáo S có vai trò thấp hơn nên chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Xét kháng cáo của 04 bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
5.1. Đối với kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm của 04 bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì có vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm dẫn đến:
Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án, các bị hại chỉ là người mua đất chứ không phải bị hại; ông Đ là người mua đất của UBND xã (theo Phiếu thu số 07) chứ không phải mua của cá nhận nào khác vì vậy ông Đ phải là bị hại, án sơ thẩm xác định ông Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng buộc bị cáo S phải bồi thường 160 triệu đồng là có sự mâu thuẫn.
Xác định thiệt hại sai dẫn đến việc truy tố các bị cáo có thể oan sai. Trong vụ việc này các bị cáo bán 14 lô đất chứ không phải là 11 lô như cấp sơ thẩm đã nhận định.
Có dấu hiệu bỏ lọt Tham ô tài sản và tội Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức đối với bị cáo S.
Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo giao bán đất trái thẩm quyền, người mua đất đã trực tiếp nộp tiền mua đất của các bị cáo nên án sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là bị hại là đúng quy định. Năm 2009, bà O nộp tiền mua 03 lô đất của các bị cáo; năm 2012, bà O uỷ quyền cho bị cáo S (cùng vợ là bà M1) bán lại 02 lô đất trong đó 01 lô bán cho ông Đ với giá 160 triệu đồng, 01 lô bán lại cho ông L3. Do vậy ông Đ là người mua lại lô đất của bà O chứ không trực tiếp mua đất ban đầu của xã. Quyền và lợi ích của ông Đ phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng với bà O, không phát sinh trực tiếp từ hành vi phạm tội của các bị xét xử trong vụ án do vậy án sơ thẩm xác định ông Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Từ tháng 2/2009 đến 26/8/2009, các bị cáo giao bán 13 lô đất cho 09 hộ dân và thu được tổng số tiền 813 triệu đồng. Tuy nhiên do thực tế không đủ diện tích để phân thành 13 lô như dự kiến nên đến đầu năm 2012, bị cáo S (thời điểm này là chủ tịch UBND xã) đã trả lại cho bà O và bà T2 mỗi người 65 triệu đồng (giá trị tương ứng với 01 lô đất). Do vậy, án sơ thẩm xác định số tiền thiệt hại các bị cáo gây thiệt hại là 683 triệu đồng là đúng pháp luật.
Hành vi giao bán 11 lô đất của bị cáo S và các bị cáo trong vụ án đã được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” vì vậy các bị hại, người liên quan có kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt Tham ô tài sản và tội Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức đối với bị cáo S là không có căn cứ.
5.2. Đối với việc các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị UBND phường T trả lại đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên không có căn cứ chấp nhận.
Như vậy, bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện nội dung vụ án, xác định hành vi phạm tội của các bị cáo, tư cách người tham gia tố tụng và xác định thiệt hại trong vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U; sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Áp dụng khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Nguyễn Xuân K 03 (Ba) năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn đã tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 25/02/2025.
Cấm bị cáo Nguyễn Xuân K đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý ở cấp xã A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Áp dụng khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt:
Nguyễn Văn S 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
Nguyễn Văn U 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
Cấm bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý ở cấp xã A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh; giao bị cáo Nguyễn Văn U cho UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn U không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Thu |
Bản án số 07/2026/HSPT ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 07/2026/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân K và đồng phạm - Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
