Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 07/2026/DS-PT

Ngày 15 - 01 - 2026

V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Sâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải, Ông Đinh Huy Lưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Nam Tùng - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 115/QĐ-PT ngày 31/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức Ph, sinh năm 1985; Địa chỉ: tổ dân phố L, phường ĐM, tỉnh Bắc Ninh, (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn AB, xã BL, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Chị Trương Thị Nh, sinh năm 1989; Địa chỉ: tổ dân phố KLH, phường VH, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt).
    • Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1969; Địa chỉ: thôn AB, xã BL, tỉnh Ninh Bình. (có đơn xin vắng mặt).
  4. Người làm chứng: Anh Hắc Ngọc H, sinh năm 1980. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG. (vắng mặt).
  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph.
  6. Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2024, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph trình bày:

Anh Ph có quen biết chị Trương Thị Nh và anh Phạm Văn N thông qua việc kinh doanh buôn bán đất. Qua nhiều lần tiếp xúc thì anh Ph được biết là anh N có đất phân lô thuộc dự án khu đô thị LT, xã TA, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (sau đây gọi tắt là dự án LT) và dự án khu dân cư thương mại và CV - Thanh Hoá (sau đây gọi tắt là CV - Thanh Hóa) để bán, do anh N là đầu mối phân phối đất của anh Hắc Ngọc H, anh H là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần đầu tư Mr là chủ đầu tư các dự án đó. Sau đó anh Ph và chị Nh đề nghị anh N bán cho anh Ph và chị Nh 70 lô đất của dự án LT, được anh N đồng ý và hẹn ngày 19/4/2021 gặp nhau tại trụ sở Công ty cổ phần đầu tư Mr (sau đây gọi tắt là Công ty Mr) để làm thủ tục mua bán.

Ngày 19/4/2021 khi gặp nhau tại trụ sở Công ty Mr, anh Ph và chị Nh đã thống nhất thỏa thuận với anh N về việc anh N bán cho anh Ph và chị Nh 70 lô đất thuộc dự án LT; việc thỏa thuận chỉ nói miệng với nhau mà không lập thành văn bản. Sau đó anh N và chị Nh bảo anh Ph chuyển 10 tỷ đồng cho anh N là tiền đặt chỗ mua 35 lô đất thuộc dự án LT. Anh Ph đã chuyển tiền cho anh N số tiền 10 tỷ đồng từ tài khoản của anh Ph tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam có số 19188013566666 tên chủ tài khoản Nguyễn Đức Ph sang tài khoản của anh N tại Ngân hàng Vietinbank có số 018 352 36789 mang tên Phạm Văn N; chị Nh chuyển cho anh N 09 tỷ. Tổng cộng là 19 tỷ đồng, anh N chuyển cho anh H 12 tỷ đồng, 07 tỷ đồng còn lại anh N hưởng. Sau đó anh N dẫn anh Ph và chị Nh đến gặp anh Hắc Ngọc H để ký hợp đồng. Anh N, anh H nói là dự án chưa hoàn thành cần phải bảo mật thông tin nên chỉ 01 người đứng ra ký, anh Ph đồng ý để một mình chị Nh ký hợp đồng. Do đó, chị Nh và anh H đã ký thoả thuận mua 70 lô đất ở dự án LT thông qua anh N. Sau khi nhận được tiền, anh N và anh H không làm thủ tục chuyển nhượng 70 lô đất thuộc dự án LT theo thỏa thuận cho anh Ph và chị Nh, anh Ph tìm hiểu thì được biết anh H không phải là chủ đầu tư của dự án LT, anh H không có đất tại dự án LT để bán, do đó, anh Ph và chị Nh yêu cầu anh H và anh N trả lại tiền. Anh H hiện đã bị xét xử hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và anh N là bị hại trong vụ án của anh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Đức Ph và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình được làm trong thời hạn luật định; hình thức, nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 279 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: anh Ph và chị Nh quen biết nhau có mối quan hệ kinh doanh buôn bán bất động sản. Chị Nh biết anh N có đất thuộc dự án LT để bán, chị Nh liên lạc với anh N hỏi mua đất thì được anh N đồng ý. Sau đó chị Nh và anh Ph bàn bạc, thống nhất cùng nhau góp vốn mua 70 lô đất tại dự án LT. Việc anh Ph chuyển khoản 10 tỷ đồng cho anh N là theo yêu cầu của chị Nh để cùng chị Nh chung nhau góp mua 70 lô đất dự án LT. Bản thân anh Ph và chị Nh đều thừa nhận là chị Nh và anh Ph mỗi người góp 1/2 số tiền để đặt cọc mua đất. Việc mua bán đất thì chị Nh là người đứng ra thay mặt anh Ph để tiến hành thỏa thuận với các bên liên quan trong việc mua bán đất tại dự án LT.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đức Ph và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Đức Ph phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Nguyễn Đức Ph đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001702 ngày 14/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
  4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, (ngày 15 tháng 01 năm 2026).

Nơi nhận:

- TAND Tối cao;

- VKSND tỉnh Ninh Bình;

- TAND khu vực 6 - Ninh Bình;

- THADS tỉnh Ninh Bình;

- Phòng GĐKT, TT&THA;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tòa Dân sự;

- Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Sâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 07/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger