| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ Bản án số: 06/2026/HS-ST Ngày: 22-01-2026 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Ơn, bà Bùi Thị Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phúc- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 22/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Văn E, sinh ngày 08/2/1984 tại L, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ văn hóa (học vấn) 01/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1946 và bà Bùi Thị A, sinh năm 1949. Vợ là Quách Thị H1, sinh năm 1985 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007 và nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: không; tiền sự: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 61/QĐ-TA ngày 12/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình (nay là TAND khu vực 15 - Phú Thọ). Đến ngày 04/4/2024 chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa được xoá án tích). Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3- Công an tỉnh P từ ngày 24/10/2025. Có mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Quách Thị H1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người chứng kiến: Nguyễn Trọng T, sinh năm 1982. Địa chỉ: phố T, xã L, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Bùi Văn E đã mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết ở khu vực xóm C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là phố C, xã L, tỉnh Phú Thọ) với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Số ma tuý mua được E lấy ra một ít để sử dụng, phần còn lại Em mang về cất giấu tại phía sau vườn của gia đình và không cho ai biết. Ngày 12/8/2022, Bùi Văn E bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình (nay là TAND khu vực 15 - Phú Thọ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 04/4/2024 Bùi Văn E chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và trở về sinh sống tại địa phương. Vào tối ngày 21/10/2025, Em say rượu và có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên đã nhớ lại số ma tuý đã cất giấu trước đây, Em một mình ra vườn phía sau nhà tìm thấy số ma tuý này và đã sử dụng hết bằng hình thức cho ma tuý lên bề mặt giấy bạc rồi châm lửa hơ nóng bên dưới rồi hít trực tiếp vào cơ thể.
Ngày 22/10/2025 tổ công tác Công an xã L, tỉnh Phú Thọ tiến hành triệu tập, kiểm tra các đối tượng trong diện quản lý sau cai nghiện do Công an xã L quản lý. Quá trình kiểm tra phát hiện trong mẫu nước tiểu của Bùi Văn E dương tính với OPI (Heroine). Tổ công tác Công an xã L, tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thu mẫu và niêm phong nước tiểu của Bùi Văn E để trưng cầu giám định theo quy định. (BL 01-05).
Tại kết luận giám định số: 2834/KL-KTHS ngày 23/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
- Trong mẫu nước tiểu của Bùi Văn E, sinh năm 1984; trú tại: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine.
- Morphine là sản phẩm chuyển hoá của H2 (H) trong cơ thể.
- Morphine: số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn E đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như trên.
Quá trình xác minh nhân thân của Bùi Văn E xác định: Bùi Văn E là đối tượng nghiện chất ma tuý, đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 39/GCN-CSCNMTSII ngày 04/4/2024 của Cơ sở cai nghiện ma tuý số II thuộc Sở lao động - thương binh và xã hội tỉnh H (nay là Cơ sở cai nghiện ma tuý số 3, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh P). Bùi Văn E đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định số 329/QĐ-UBND ngày 04/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Như vậy, Bùi Văn E là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-KV15 ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ đã truy tố bị cáo Bùi Văn E về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn E phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Bùi Văn E từ 24 đến 30 tháng tù.
Về vật chứng: 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn E từ năm 2022, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Quách Thị H1 là vợ của Bùi Văn E, chung sống cùng nhà nhưng Quách Thị H1 không biết việc Em cất giấu ma tuý phía sau vườn của gia đình nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với H1 là có căn cứ.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn E thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về địa phương lao động sản xuất và chăm sóc con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn E là hoàn toàn khách quan, phù hợp các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Bùi Văn E là người nghiện ma túy và là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện của UBND xã L, tỉnh Phú Thọ theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý tại Quyết định số: 329/QĐ- UBND ngày 04/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Tối ngày 21/10/2025, Bùi Văn E đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22/10/2025, Công an xã L, tỉnh Phú Thọ tiến hành thu mẫu nước tiểu của Bùi Văn E và giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine (Morphine là sản phẩm chuyển hoá của H2 (H) trong cơ thể). Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất của hành vi vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước; Là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và làm lây truyền các bệnh nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án nên cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng thỏa mãn qui định về tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần được xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong quá trình lượng hình.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; Căn cứ tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo; Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly xã hội một thời gian đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn E vào năm 2022, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Quách Thị H1 là vợ của Bùi Văn E, chung sống cùng nhà nhưng Quách Thị H1 không biết việc Em cất giấu ma tuý phía sau vườn của gia đình nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với H1 là có căn cứ.
6] Vật chứng vụ án: 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn E phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn E 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (24/10/2025).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Văn E phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Hướng dẫn thi hành án: Bản án này được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| 1. Bùi Văn T1 2. Bùi Văn T2 | Nguyễn Thị Thanh H3 |
Bản án số 06/2026/HS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 06/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Em
