|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP Bản án số: 06/2026/DS-ST Ngày: 09/01/2026. “V/v Tranh chấp đòi lại tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Phiến.
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Diệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 237/2025/TLST-DS ngày 22/10/2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2025/QĐXXST-DS ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Kim N, sinh năm 1959; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: số C, Khóm T, Phường S, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0916.939.xxx (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Số E, tổ B, ấp C, xã B, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: Khóm T, Phường S, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0368.930.xxx (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Kim N trình bày:
Bà N có cho anh T thuê đất vào năm 2016, khi thuê có làm Giấy tay “Hợp đồng cho thuê” ngày 24/4/2016 (gọi tắt là: Hợp đồng năm 2016), thời hạn thuê là 10 năm đến ngày 24/4/2026 thì hết hạn hợp đồng, giá thuê là 170.000.000 đồng/10 năm, diện tích cho thuê là 2.000m² thuộc các thửa 206, 369a, 369b. Hợp đồng năm 2016 có ghi thời gian trả tiền thuê từng lần cụ thể trong hợp đồng. Sau khi làm Hợp đồng năm 2016 bà N và anh T đã thực hiện đúng theo Hợp đồng. Đến năm 2021 thì anh T phải trả toàn bộ số tiền thuê lần cuối là 70.000.000 đồng nhưng anh T1 không thực hiện đúng Hợp đồng, anh T chỉ trả 35.000.000 đồng còn lại 35.000.000 đồng anh T không trả. Ngoài ra, trong Hợp đồng năm 2016 giữa bà N và anh T có thỏa thuận bổ sung nếu diện tích đất cho thuê của bà N bị thu hồi thì phải trừ ra cho anh T tương ứng với thời gian thuê từ ngày thu hồi cho đến hết thời hạn thuê, diện tích thu hồi của bà N khoảng 1.500m² (diện tích bị thu hồi theo Quyết định là: 1.537,1m²). Cây trái các thứ trên đất của anh T trên phần đất cho thuê đền bù thì chia đôi. Phần đất của bà N bị thu hồi vào tháng 06/2025, cây trồng của anh T cũng được đền bù vào tháng 06/2025, số tiền bồi thường cho anh T là 190.000.000 đồng, anh T đã nhận tiền bồi thường vào tháng 06/2025.
Ngoài ra, năm 2024 anh T và bà N có tranh chấp liên quan đến tiền thuê đất (anh T trả thiếu tiền thuê đất vào năm 2021). Tại Tòa án các bên đã thỏa thuận thống nhất và Tòa án ban hành Quyết định số 55/2024/QĐST-DS ngày 21/11/2024 có nội dung là anh T đồng ý trả tiếp số tiền thuê 35.000.000 đồng và lãi là 6.000.000 đồng (tổng cộng là 41.000.000 đồng) và bà N phải cho anh T tiếp tục sử dụng đến khi hết thời gian thuê đất năm 24/4/2026.
Khi Tòa án tiến hành hòa giải ngày 13/11/2024 anh T và bà N có làm Tờ thỏa thuận cùng ngày 13/11/2024 (gọi tắt là: Hợp đồng năm 2024) có nội dung anh T phải thực hiện trả tiền từng lần, số tiền mỗi lần phải trả các bên đều ghi cụ thể. Mặc khác, trong Hợp đồng năm 2024 có thỏa thuận “Nếu anh T không trả đủ 02 tháng thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T là thuộc quyền sử dụng của bà N. Khi anh T không trả tiền hai tháng liên tục thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T trên đất đều thuộc quyền sử dụng của bà N” nội dung theo Hợp đồng năm 2024 là bà N soạn thảo. Sau khi có Quyết định của Tòa án và Hợp đồng năm 2024 anh T thực hiện trả cho bà N đến tháng 6/2025 số tiền là 36.000.000 đồng còn 01 lần (tháng 07/2025) số tiền 5.000.000 đồng thì anh T ngưng không trả cho bà N.
Do anh T vi phạm Hợp đồng năm 2024 không trả tiền thuê còn thiếu 01 tháng (tháng 07/2025) nên bà N cho rằng toàn bộ cây cối, hoa kiểng, và nhà của của anh T là thuộc quyền sở hữu của bà N. Do đó số tiền đền bù cây cối, hoa kiểng, và nhà của anh T trên diện tích đất của bà N bị thu hồi là 190.000.000 đồng là của bà N. Bà N chỉ yêu cầu xem xét giải quyết toàn bộ số tiền bồi thường 190.000.000 đồng và lãi theo Hợp đồng năm 2024, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc thỏa thuận bổ sung theo Hợp đồng năm 2016 là cấn trừ diện tích đất cho thuê bị thu hồi và chia đôi tiền đền bù cây trái các thứ trên đất của anh T trên phần đất bà N cho thuê bị thu hồi.
Nay bà N xác định chỉ yêu cầu anh T trả cho bà N số tiền là 190.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 01/7/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ kiện với mức lãi suất là 0,83%/tháng (tính đến ngày 09/01/2026 số tiền lãi là 9.882.536 đồng).
Theo biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Anh T có thuê đất của bà N vào 24/4/2016, diện tích là 2.000m², giá thuê là 17.000.000 đồng/năm thời hạn thuê là 10 năm, đến ngày 24/4/2026 thì hết thời gian thuê, số tiền thuê là 170.000.000 đồng. Thời gian trả tiền trong hợp đồng năm 2016 có ghi thời gian trả tiền thuê từng lần cụ thể trong Hợp đồng năm 2016. Sau khi thỏa thuận anh T đã thực hiện đúng theo hợp đồng, đến năm 2021 thì anh T phải trả toàn bộ số tiền lần cuối là 70.000.000 đồng nhưng anh T1 chỉ trả được 35.000.000 đồng còn lại 35.000.000 đồng không trả được, thì bà N rào đất lại không cho anh T sử dụng nên anh T mới đi kiện vào năm 2024. Ngoài ra, anh T thừa nhận trong Hợp đồng năm 2016 anh T và bà N còn thỏa thuận “nếu đất bà N làm lộ thì sẽ trừ diện tích đất thuê cho anh T tương ứng với thời gian thuê còn lại, nếu bồi thường cây trồng và các thứ trên đất của anh T thì sẽ chia đôi”.
Theo Quyết định số 55/2024/QĐST-DS ngày 21/11/2024 của Tòa án thì anh T đồng ý trả tiếp số tiền 35.000.000 đồng còn lại và lãi là 6.000.000 đồng (tổng cộng là 41.000.000 đồng) và bà N phải cho anh T tiếp tục sử dụng đến khi hết thời gian thuê đất. Ngoài Quyết định thì anh T và bà N có thỏa thuận trong Hợp đồng năm 2024 anh T có thỏa thuận “Nếu anh T không trả đủ 02 tháng thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T là thuộc quyền sử dụng của bà N. Khi anh T không trả tiền hai tháng liên tục thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T trên đất đều thuộc quyền sử dụng của bà N”, nội dung theo Hợp đồng năm 2024 do bà N soạn thảo. Sau khi có Hợp đồng và Quyết định của Tòa án anh T đã trả cho bà N theo đúng thỏa thuận chỉ còn 01 lần số tiền 5.000.000 đồng (tháng 07/2025) thì anh T không trả nữa. Lý do anh T không trả là do bà N không chịu trừ tiền diện tích đất bị thu hồi (diện tích bị thu hồi là: 1.537,1m²) tương ứng với thời gian từ khi thu hồi cho đến hết hợp đồng cho anh T.
Tuy nhiên, trong vụ án này anh T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc cấn trừ tiền diện tích đất bị thu hồi vào tiền thuê đất tương ứng với thời gian từ khi thu hồi cho đến hết hợp đồng thuê và thỏa thuận chia đôi tiền đền bù cây trái các thứ trên đất của anh T trên phần đất bà N cho thuê bị thu hồi theo thỏa thuận trong Hợp đồng năm 2016.
Ngoài ra, đối với số cây trồng và tài sản trên đất của anh T chỉ được nhà nước hỗ trợ tiền di dời không phải tiền đền bù đồng thời anh T chỉ không trả 01 tháng nên không vi phạm thỏa thuận theo Hợp đồng năm 2024. Anh T thừa nhận tổng số tiền hỗ trợ theo Phương án chi tiết vào ngày 18/6/2025 là 269.849.330 đồng là cho toàn bộ 5.000m² (trong đó 2.000m² thuê của bà N và 3.000m² anh T thuê của người khác). Số tiền hỗ trợ di dời cây trồng và tài sản của anh T trên đất của bà N bị thu hồi là 190.000.000 đồng, anh T đã nhận đủ số tiền hỗ trợ di dời cây trồng và tài sản trên đất vào ngày 18/6/2025.
Anh T không đồng ý trả cho bà N số tiền 190.000.000 đồng và không đồng ý trả lãi từ ngày 01/07/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ kiện với mức lãi suất là 0,83%/tháng (tính đến ngày 09/01/2026 số tiền lãi là 9.882.536 đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn, chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Kim N về việc yêu cầu anh Nguyễn Hữu T trả số tiền 190.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/7/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 0,83%/tháng (tính đến ngày 09/01/2026 số tiền lãi là 9.882.536 đồng).
- Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà N yêu cầu anh T trả số tiền 190.000.000 đồng và lãi từ ngày 01/07/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ kiện với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Anh T hiện đang cư trú tại: Khóm T, Phường S, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp đòi lại tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.
[2] Về tài liệu chứng cứ đương sự đã nộp và Tòa án đã thu thập trong vụ án:
[2.1] Tài liệu chứng cứ bà N nộp để chứng minh cho yêu cầu của bà N: Quyết định thu hồi đất số 151/QĐ-UBND-NĐ ngày 26/6/2025 (photo); Biên bản kiểm điểm nhà, công trình, cây trồng bị thiệt hại (photo); Hợp đồng cho thuê năm 2016 (photo); Tờ thỏa thuận năm 2024 (bản chính).
[2.2] Tài liệu chứng cứ anh T nộp để chứng minh cho yêu cầu của anh T: Hợp đồng cho thuê năm 2016 (bản chính); Quyết định số 55/2024/QĐST-DS ngày 21/11/2024 (photo); Tờ thỏa thuận năm 2024 (photo); Phương án bồi thường hỗ trợ cho anh Nguyễn Hữu T (photo); Biên bản kiểm điểm nhà, công trình, cây trồng bị thiệt hại (photo).
[2.3] Tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập: Biên bản ghi lời khai đối chất ngày 11/11/2025 và 09/12/2025 (bản chính).
[2.4] Về các tài liệu chứng cứ bà N và anh T đã thống nhất: Các đương sự thống nhất có nội dung thỏa thuận Hợp đồng năm 2016; nội dung Hợp đồng năm 2024 và thống nhất chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết Hợp đồng năm 2024, không yêu cầu xem xét giải quyết Hợp đồng năm 2016. Bà N anh T thống nhất số đất bà N thuê là 2.000m², số đất bà N bị thu hồi là 1.537,1m² và thống nhất số tiền bồi thường cho anh T và anh T đã nhận trên phần đất bị thu hồi 1.537,1m² là 190.000.000 đồng, bà N anh T thống nhất nội dung Hợp đồng năm 2024 là do bà N soạn thảo. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết các bên đương sự thừa nhận nên không cần phải chứng minh.
Ngoài các tài liệu chứng cứ trên thì các đương sự trong vụ án không nộp tài liệu chứng cứ nào khác.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến trình bày của bị đơn.
[3.1]. Đối với Hợp đồng năm 2016 hai bên có thỏa thuận số đất thuê thời gian thuê, số tiền thuê và có bổ sung “nếu đất bà N làm lộ thì sẽ trừ diện tích đất thuê cho anh T tương ứng với thời gian thuê còn lại, nếu bồi thường cây trồng và các thứ trên đất của anh T thì sẽ chia đôi”. Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là Hợp đồng song vụ theo quy định tại Điều 402 Bộ luật Dân sự theo đó bà N phải có nghĩa vụ giao đất cho anh T sử dụng đủ diện tích, đúng hiện trạng và trong suốt thời hạn thuê; ngược lại, anh T có nghĩa vụ trả tiền thuê đất đầy đủ, đúng thời hạn theo thỏa thuận. Khi bị thu hồi bồi thường thì bà N phải thực hiện cấn trừ diện tích đất thuê tương ứng với thời hạn thuê còn lại cho anh T thì anh thiện sẽ thực hiện chia đôi số tiền bồi thường cây trồng và các thứ trên đất của anh T. Theo đó nghĩa vụ của các bên có tính chất đối ứng, ràng buộc lẫn nhau, việc thực hiện nghĩa vụ của bên này là cơ sở để bên kia tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tương ứng. Đến 6/2025, nhà nước đã thu hồi 1.537,1 m² đất của bà N làm cho diện tích cho T2 không còn đủ nhưng bà N chưa thực hiện nghĩa vụ trừ diện tích đất thuê cho anh T tương ứng với thời gian thuê còn lại cho anh T chưa phải thực hiện nghĩa vụ chia đôi tiền bồi thường cây trồng và các thứ trên đất cho bà N. Mặc khác trong vụ án này bà N và anh T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết cấn trừ tiền diện tích đất bị thu hồi vào tiền thuê đất tương ứng với thời gian từ khi thu hồi cho đến hết hợp đồng thuê và thỏa thuận chia đôi tiền đền bù cây trái các thứ trên đất của anh T trên phần đất bà N cho thuê bị thu hồi theo thỏa thuận trong Hợp đồng năm 2016 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này khi nào có tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác.
[3.2] Đối với Hợp đồng năm 2024 các bên thỏa thuận vào ngày 13/11/2024 để trả số tiền thuê còn thiếu và lãi là 41.000.000 đồng đồng thời có thỏa thuận thời gian, số tiền phải trả cụ thể trong Hợp đồng năm 2024, nhưng khi Tòa án giải quyết thì các bên đã thỏa thuận khác so với Hợp đồng năm 2024 cụ thể tại Biên bản hòa giải ngày 13/11/2025 và được Tòa án ban hành Quyết định số 55/2024/QĐST-DS ngày 21/11/2024 thì bà N và anh T thỏa thuận nội dung “Anh T đồng ý trả tiếp số tiền 41.000.000 đồng và bà N phải cho anh T tiếp tục sử dụng đến khi hết thời gian thuê đất. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi, mức lãi suất theo quy định tại 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, đến khi thi hành án xong”. Như vậy xem như bà N, anh T đã thỏa thuận lại và được Tòa án ban hành Quyết định (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Trường hợp anh T không thực hiện thì bà N có quyền yêu cầu thi hành án thi hành số tiền 5.000.000 đồng còn lại và lãi suất tương ứng với thời gian chưa thi hành án, đến khi thi hành án xong.
Ngoài ra, Hợp đồng năm 2024 có nội dung “Nếu anh T không trả đủ 02 tháng thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T là thuộc quyền sử dụng của bà N. Khi anh T không trả tiền hai tháng liên tục thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng và nhà của anh T trên đất đều thuộc quyền sử dụng của bà N”. Tuy nhiên thỏa thuận trong Hợp đồng năm 2024 có nội dung thỏa thuận không rõ ràng làm các bên có cách hiểu khác nhau cụ thể: “Bà N hiểu là trả trễ 02 tháng, anh T hiểu là không trả đủ tiền 02 tháng” thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng, và nhà của anh T là thuộc quyền sở hữu của bà N. Tại Khoản 1 và 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự quy định “1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng....6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”. Hơn nữa, khi thực hiện Hợp đồng năm 2024, anh T chỉ không thực hiện đúng một lần, không trả 01 tháng (tháng 07/2025) số tiền là 5.000.000 đồng.
Như vậy việc anh T cho rằng trả trễ 01 tháng thì toàn bộ cây cối, hoa kiểng, và nhà của anh T vẫn là của anh T, nên số tiền bồi thường cây cối, hoa kiểng và nhà là 190.000.000 đồng vẫn là của anh T, nên số tiền bồi thường cây cối, hoa kiểng và nhà là 190.000.000 đồng vẫn là của anh T là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 105, 107, 161, 404 Bộ luật Dân sự, bà N yêu cầu anh T trả số tiền 199.882.536 đồng (trong đó tiền bồi thường cây cối, hoa kiểng, và nhà của anh T là 190.000.000 đồng và tiền lãi là tạm tính đến ngày 09/01/2026 là 9.882.536 đồng, với mức lãi suất 0,83%/tháng) là không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu của bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên bà N có đơn xin miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà N.
[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 105, 107, 161, 402, 404 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Kim N về việc yêu cầu anh Nguyễn Hữu T trả số tiền 199.882.536 đồng (trong đó tiền bồi thường là 190.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/7/2025 đến ngày 09/01/2026 là 9.882.536 đồng, với mức lãi suất 0,83%/tháng)
- 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phan Kim N.
- 3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- 4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. (Nhân) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 06/2026/DS-ST ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 06/2026/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
