TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2026/DS-PT Ngày 15-01-2026 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Khánh Vân và ông Nguyễn Ngọc Phương
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 17/12/2025 và 15/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2025/TLPT-DS ngày 07/10/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 145/2025/QĐ-PT ngày 02/12/2025, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 156/2025/QĐ-PT ngày 17/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị B
Căn cước công dân số: 015178000950
Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn F, xã T, tỉnh Lào Cai). (Có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Hoàng Văn T; Căn cước công dân số: 015068000576
- Bà Hoàng Thị H; Căn cước công dân số: 015168000693
- Bà Hà Thị Kim T1; Căn cước công dân số: 015170000701
Cùng địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn F, xã T, tỉnh Lào Cai). (Đều có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn H1;
- Anh Hoàng Văn H2;
- Anh Hoàng Văn V;
- Anh Hoàng Văn L;
Cùng địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn F, xã T, tỉnh Lào Cai). (Anh V có mặt; anh H1, anh H2, anh L đều vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Hà Thị Kim T1 và ông Hoàng Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị B trình bày:
Năm 2021 bà Hoàng Thị B nhận chuyển nhượng từ ông Hoàng Văn H3, bà Sầm Thị H4 thửa đất số 172, tờ bản đồ số 75, diện tích sử dụng 237,4m², mục đích sử dụng: Đất thổ cư, địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn F, xã T, tỉnh Lào Cai), đất được được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ). Khi nhận chuyển nhượng thửa đất có ranh giới rõ ràng với các hộ gia đình khắc bằng các gốc cây cọ, không có tranh chấp gì. Năm 2022, gia đình ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H và gia đình bà Hà Thị Kim T1, con trai là anh Hoàng Văn V đã đánh đất, hạ nền đất của gia đình xuống thấp làm mất ranh giới tự nhiên. Sau đó gia đình ông T, bà H đã lấn chiếm diện tích khoảng 8,1m²; gia đình bà T1 kè đá lấn chiếm diện tích khoảng 3,5m² đất của gia đình bà B. Gia đình bà B đã nhiều lần yêu cầu phải trả lại đất nhưng gia đình ông T, bà H và gia đình bà T1 không nhất trí và tiếp tục lấn chiếm.
Vì vậy, bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc gia đình ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H phải trả lại diện tích đã lấn chiếm là 24,3m² và buộc gia đình bà Hà Thị Kim T1 cùng con trai là anh Hoàng Văn V phải trả lại diện tích đã lấn chiếm là 13,9m² (Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2025), trong đó phần diện tích gia đình bà Hà Thị Kim T1 lấn chiếm gồm 02 mảnh, 01 mảnh có diện tích 10,0m² và 01 mảnh có diện tích 3,9m².
Bị đơn ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H trình bày:
Ông T, bà H có một thửa đất ở tại Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là thôn F, xã T, tỉnh Lào Cai). Nguồn gốc đất là do cha ông để lại, đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 2000 đứng tên hộ ông T nhưng do năm 2005 nhà ông bà bị cháy nên đã bị mất GCNQSDĐ. Do đất ở vị trí cao nên năm 2022 ông bà đã đánh đất hạ thấp xuống để xây nhà. Sau đó, bà B cho rằng gia đình ông bà đã lấn chiếm và đòi trả lại diện tích đất 24,3m². Ông T, bà H không nhất trí với yêu cầu đòi trả lại đất của bà B vì diện tích đất là của gia đình ông bà vẫn sử dụng đúng ranh giới, mốc giới.
Bị đơn bà Hà Thị Kim T1 trình bày:
Gia đình bà T1 có sử dụng một thửa đất giáp ranh với đất của bà B, nguồn gốc đất là do bố mẹ chồng bà là ông Hoàng Văn T2, bà Sầm Thị Q tặng cho. Bà đã sử dụng và được cấp GCNQSDĐ từ năm 2015. Vị trí ranh giới đất của gia đình bà cao hơn đất của gia đình bà B, gia đình bà vẫn sử dụng đúng ranh giới, không có tranh chấp gì. Năm 2022 giữa T1 với bà B phát sinh tranh chấp, bà B yêu cầu bà T1 và con trai là anh Hoàng Văn V phải trả lại diện tích đất 13,9m². Bà T1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà B vì gia đình bà sử dụng đúng ranh giới, không lấn chiếm đất, vị trí và địa thể đất của gia đình bà T1 cao hơn đất của bà B.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H1 trình bày:
Anh Hoàng Văn H1 là con trai của ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H. Hiện nay anh đã ở riêng và không biết gì về việc tranh chấp quyền sử dụng giữa bà B với ông T, bà H. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà B thì anh H1 không nhất trí vì đây là đất của ông T, bà H đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 2000, không có tranh chấp với ai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V trình bày:
Anh Hoàng Văn V có 01 thửa đất tại thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). Vị trí thửa đất giáp ranh với đất của bà Hoàng Thị B. Nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ anh bà Hà Thị Kim T1, ông Hoàng Văn Đ (đã chết) tặng cho anh để làm nhà từ năm 2018 nhưng chưa tách thửa riêng. Đất có vị trí cao hơn đất của bà B nên gia đình anh sử dụng đúng ranh giới, mốc giới, không có tranh chấp gì. Vì vậy, anh V không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà B.
Đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H2, anh Hoàng Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lời khai.
Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013; Khoản 4 Điều 5, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 31 và Điều 236 Luật Đất đai 2024; Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 468, Điều 503, Điều 579, Điều 580 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị B:
1.1. Buộc gia đình ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H phải trả lại cho bà Hoàng Thị B 24,3m² đất thuộc mảnh số 4 (Theo sơ đồ thẩm định). Có giáp ranh như sau: Phía Đông Bắc có chiều dài 10,2m, tiếp giáp với đất hiện đang do bà Hoàng Thị B sử dụng (từ điểm A14 đến A15); Phía Đông Nam có chiều dài 1,9m, tiếp giáp với đất hiện đang do gia đình ông Hoàng Văn T quản lý (từ điểm A15 đến điểm A23); Phía Tây Nam có tổng chiều dài 10,2m, tiếp giáp với đất của gia đình ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H quản lý (Từ điểm A23 đến điểm A8); Phía T có chiều dài 4,0m, giáp với mảnh đất số 3 (Là thửa đang tranh chấp giữa bà Hoàng Thị B với gia đình bà Hà Thị Kim T1 - từ điểm A14 đến điểm A8).
1.2. Buộc gia đình bà Hà Thị Kim T1 và anh Hoàng Văn V phải tháo dỡ một bờ kè làm bằng đá hộc cao 110cm, dài 4,7m dầy 40cm (Tại giáp ranh trên mảnh đất số 3 - trong sơ đồ thẩm định) để trả lại cho bà Hoàng Thị B diện tích 10,0m² đất thuộc mảnh số 3 (Theo sơ đồ thẩm định). Có giáp ranh như sau: Phía Tây Bắc giáp với đất nhà bà Hà Thị Kim T1 đang sử dụng, có chiều dài 10,2m (Từ điểm A8 qua điểm A9 đến điểm A10); Phía Đông giáp đất bà Hoàng Thị B đang sử dụng, có chiều dài 7,2m (Từ điểm A10 qua điểm A13 đến điểm A14); Phía Đông Nam giáp thửa số 4, có chiều dài 4,0m (Là thửa đang tranh chấp giữa bà Hoàng Thị B với gia đình ông Hoàng Văn T - từ điểm A14 đến điểm A8).
1.3. Buộc gia đình bà Hà Thị Kim T1 và anh Hoàng Văn T phải trả lại cho bà Hoàng Thị B 3,9m² đất thuộc mảnh số 2 (Theo sơ đồ thẩm định). Có giáp ranh như sau: Phía Tây Bắc giáp với đất nhà bà Hà Thị Kim T1 và anh Hoàng Văn V đang sử dụng, có chiều dài 9,2m (Từ điểm A10 đến điểm A11); Phía Đông Bắc giáp hành lang giao thông đường tỉnh lộ 171, có chiều dài 0,6m (Từ điểm A11 đến điểm A12); Phía Đông Nam giáp đất bà Hoàng Thị B đang sử dụng, có chiều dài 9,0m (Từ điểm A12 qua điểm A13 đến điểm A10).
(Có sơ đồ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, về lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/8/2025 bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung và quyết định của bản án để đảm bảo quyền lợi của gia đình ông T, bà T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai. Buộc người kháng cáo chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức đơn kháng cáo:
Đơn kháng cáo của Bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 có đầy đủ các nội dung theo mẫu đơn và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên được xác định là hợp lệ.
[2]. Về việc xác định người tham gia tố tụng trong vụ án:
Theo Đơn khởi kiện bà Hoàng Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H và bà Hà Thị Kim T1, anh Hoàng Văn V phải trả lại diện tích đang lấn chiếm sử dụng nằm trong GCNQSDĐ đã được cấp mang tên bà B. Trong đơn khởi kiện bà B xác định bị đơn là ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị H và bà Hà Thị Kim T1, anh Hoàng Văn V. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án thấy rằng mặc dù tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra đối với thửa đất mà bà B cho rằng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng ông T, bà H và bà T1, anh V là 02 hộ gia đình độc lập, trong đó ông T và bà H có quan hệ vợ chồng, bà T1 và anh V có quan hệ là mẹ con; diện tích đất lấn chiếm không cùng một vị trí. Do đó, khi nhận Đơn khởi kiện Tòa án cần hướng dẫn và yêu cầu người khởi kiện làm đơn khởi kiện độc lập đối với mỗi hộ gia đình riêng biệt. Việc Tòa án sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo Đơn khởi kiện của bà B đối với cả 02 hộ gia đình là không đúng. Tuy nhiên việc này không xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của đương sự nên không phải căn cứ hủy bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của Bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1:
[3.1] Về việc xác định diện tích đất tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất tranh chấp. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2025 thì các đương sự là bà B, ông T, bà T1 và anh V đều có mặt và tự mình xác định ranh giới (xịt sơn, đóng cọc) diện tích đất của gia đình mình. Trên cơ sở các thửa đất do đương sự tự xác định ranh giới ngoài thực địa đã xác định: Diện tích đất tranh chấp giữa bà B với ông T là thửa đất số 4, diện tích 24,3m²; Diện tích đất tranh chấp giữa bà B với bà T1, anh V là thửa đất số 2, diện tích 3,9m² và thửa đất số 3, diện tích 10,0m². Sau khi có kết quả đo đạc, Tổ đo đạc đã tiến hành lồng ghép diện tích đất tranh chấp với GCNQSDĐ thấy rằng diện tích đất tranh chấp đều nằm trong thửa đất số 175, tờ bản đồ số 75, diện tích 237,4m² đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số CQ 590268, số vào sổ CH01898 cho ông Hoàng Văn H3, bà Sầm Thị H4, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác nhận chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị B ngày 24/6/2021. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ các đương sự không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Hoàng Văn T không nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2025 và yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ lại. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa và yêu cầu ông T trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 17/12/2025 phải nộp tạm ứng chi phí tố tụng, nhưng hết thời hạn trên ông T không nộp cho Tòa án nên Tòa án không chấp nhận yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ lại của ông T. Tuy nhiên để làm rõ một số vấn đề liên quan, ngày 08/01/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tiến hành xác minh tại thực địa đối với các diện tích đất tranh chấp. Tại biên bản xác minh tại thực địa và kết quả lồng ghép diện tích đất tranh chấp lên bản đồ địa chính và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn vị đo đạc xác định không thể thực hiện lồng ghép diện tích đất tranh chấp lên các GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông T, hộ bà T1 cũng như không thực hiện được việc lồng ghép các GCNQSDĐ của hộ ông T, hộ bà T1 lên bản đồ địa chính do thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan đo đạc thực hiện đo đạc thủ công, chỉ có sơ họa thửa đất. Hơn nữa, so sánh diện tích đất hộ ông T và hộ bà T1 sử dụng trên thực địa với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ, cả hộ ông T và hộ bà T1 đều đang sử dụng đất vượt diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ.
Đối với tài sản là kè đá: Quá trình đo đạc và xác minh đã xác định kè đá được làm bằng đá hộc, xây bằng xi măng, chiều cao 1,1 m, chiều dài 5,3 m, chiều rộng 0,4 m, và được nằm hoàn toàn trong diện tích đất tranh chấp giữa hộ bà B và hộ bà T1 (thửa số 03 theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái).
Vì vậy, xác định diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2]. Xét căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp:
Tại cấp sơ thẩm Tòa án đã thu thập tài liệu, chứng cứ là toàn bộ hồ sơ cấp GCNQSDĐ, hồ sơ đăng ký biến động (chuyển nhượng, tặng cho) đối với các hộ gia đình có liên quan tại khu vực đất tranh chấp. Căn cứ các tài liệu đã thu thập được thấy rằng ngày 31/8/2017 UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số CD 304397, số vào sổ CH00952 cho ông Hoàng Văn H3, bà Sầm Thị H4 (thửa đất số 85, tờ bản đồ số 75, diện tích 294,8m²). Sau đó ông H3, bà H4 làm thủ tục tách thửa đất này thành các thửa đất số 171, diện tích 57,4m² và thửa đất số 172, diện tích 237,4m² được Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện L xác nhận ngày 19/8/2019. Đến năm 2021, bà Hoàng Thị B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hoàng Văn H3, bà Sầm Thị H4 đối với thửa đất số 172, tờ bản đồ số 65. Khi nhận chuyển nhượng các bên làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thủ tục đăng ký biến động theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của bị đơn ông T, bà H cho rằng diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất ông bà được cha ông để lại, đã sử dụng ổn định, lâu dài và được cấp GCNQSDĐ từ năm 2000, và ý kiến của bị đơn bà T1 cho rằng diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất vợ chồng bà T1 được bố mẹ chồng là ông T2, bà Q tặng cho thấy rằng thời điểm năm 2000 UBND huyện L cấp quyền sử dụng đất cho hộ ông T, bà H đối với thửa đất số 01 diện tích 117m², thửa đất số 02 diện tích 195m² (không có số tờ bản đồ) và hộ ông T2, bà Q đối với thửa đất số 01 diện tích 795m², thửa đất số 02 diện tích 150m² (không có số tờ bản đồ); địa chỉ các thửa đất tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (cũ). Năm 2015, ông T2, bà Q tặng cho quyền sử đất cho ông Hoàng Văn Đ, bà Hà Thị Kim T1, được Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất xác nhận tặng cho trên GCNQSDĐ ngày 01/12/2015.
Căn cứ hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông H3, bà H4; hộ ông T, bà H và hộ ông T2, bà Q, cũng như hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H3, bà H4 với bà B; hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T2, bà Q với cho ông Đ, bà T1 thấy rằng quá trình cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, làm thủ tục đăng ký biến động chuyển nhượng, tặng cho đều không có khiếu nại, khiếu kiện gì liên quan đến việc có sự chồng chéo với diện tích đất của các hộ giáp ranh, liền kề. Mặt khác như nhận định tại mục [3.2], việc lồng ghép đối với GCNQSDĐ của hộ ông T, hộ bà T1 không thực hiện được. Do đó, xác định việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác nhận biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B trên GCNQSDĐ là phù hợp với quy định của pháp luật, đây là căn cứ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của bà B đối với diện tích đất 237,4m² thuộc thửa đất số 172, tờ bản đồ 75. Hộ ông T, bà H và hộ bà T1, anh V là những hộ gia đình đang sử dụng đất giáp ranh, liền kề với bà B nhưng sử dụng không đúng ranh giới, có sự lấn chiếm sang diện tích đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp quyền sử dụng hợp pháp cho bà B.
Do đó, việc ông T, bà H và bà T1, anh V đang quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là không đúng và không phù hợp với việc sử dụng đất trên thực địa, vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất, xâm phạm quyền của chủ sử dụng đất hợp pháp là bà B. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn ông T, bà H và bà T1 cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc gia đình mình đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là hợp pháp, có căn cứ pháp lý. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông T và bà T1 cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh nội dung kháng cáo là có căn cứ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm mỗi người là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 mỗi người đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E, số 0000661 và số 0000660 ngày 18/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Ông Hoàng Văn T và bà Hà Thị Kim T1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |
Bản án số 06/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 06/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
