Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-PT

Ngày: 08-01-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Văn Ngầu;

Các Thẩm phán:

1. Bà Phạm Thị Thanh Giang;

2. Ông Nguyễn Văn Nam.

- Thư ký phiên tòa: ông Thái Công Hậu – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 195/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T và bị hại Trần Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1980 tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T (nay là khu phố A, phường T), tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1954 và bà Đỗ Thị Thu L1, sinh năm 1954; chồng: Đặng Duy H1, sinh năm 1976 (đã ly hôn); con: có 03 người (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/6/2025 đến ngày 13/9/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bão lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Bị hại kháng cáo:

ông Trần Văn L, sinh năm 1965; địa chỉ cư trú: khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Bị cáo có liên quan đến kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Chí T1, sinh năm 2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T (nay là khu phố A, phường T), tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Duy H1, sinh năm 1974 và bà Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1980 (là bị cáo trong vụ án); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam từ ngày 08/6/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam G - thuộc Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1: ông Đặng Tấn L2 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/4/2025, ông Trần Văn L cùng với Đỗ Thị Thu T (là người sống chung với ông L như vợ chồng từ năm 2020, không có đăng ký kết hôn) và Đặng Chí T1 (là con riêng của T) đến Ngân hàng A - Chi nhánh thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là chi nhánh T - Tây Ninh) rút số tiền tiết kiệm 700.000.000 đồng (là tài sản riêng của ông L) đem về nhà cất trong tủ ở phòng ngủ của ông L tại khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh. Do cần tiền tiêu xài và trả nợ và do chung sống như vợ chồng với ông L, nên Thơ biết chìa khóa phòng ngủ và chìa khóa tủ của ông Lữ G chung với chìa khóa xe môtô, nên vào ngày 03/6/2025, T rủ T1 lấy trộm tiền của ông L, đồng thời bàn bạc với T1 là T sẽ giả vờ mượn xe môtô của ông L đi công việc để đưa cho T1 đi làm chìa khóa phụ và thống nhất đến ngày 06/6/2025, khi T và ông L đi khám bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, T1 sẽ lén lút vào nhà ông L, sử dụng 02 chìa khóa phụ mở cửa phòng ngủ và cửa tủ để lấy trộm tiền thì T1 đồng ý. Đến ngày 04/6/2025, T mượn xe môtô biển số 70LA-067.22 của ông L có gắn sẵn chìa khóa phòng ngủ và chìa khóa tủ trong chìa khóa xe đưa cho T1 điều khiển đến khu vực chợ mới T thuê một người đàn ông (không xác định được họ tên, địa chỉ) làm thêm 02 chìa khóa phụ rồi đem xe môtô về trả lại cho ông L. Đến khoảng 03 giờ ngày 06/6/2025, T điều khiển xe môtô biển số 70LA-067.22 chở T1 đến nhà ông L; khi đến cổng nhà ông L thì T1 xuống xe, đứng đợi, còn T chạy xe vào trong nhà ông L và đi ra phía sau, mở sẵn cửa hông cho T1. Sau đó, T đi ra phía trước nhà cảnh giới và dùng tay ra hiệu cho T1 đi vào nhà ông L bằng cổng phụ. Khoảng 05 phút sau, ông L và T rời khỏi nhà, đi khám bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh; T1 mở cửa hông, đi vào bên trong nhà ông L, dùng nón che camera trong phòng khách rồi đi đến phòng ngủ của ông L, dùng 02 chìa khóa đã làm sẵn mở cửa phòng và cửa tủ trong phòng lấy số tiền 145.000.000 đồng rồi đi về nhà tại khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh cất giấu. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, T1 đến tiệm cầm đồ “Thành Tiếp” thuộc khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh do ông Trừ Văn T2 làm chủ chuộc lại xe môtô của T1 đã cầm cố trước đó với số tiền 12.250.000 đồng, sau đó đến tiệm điện thoại “H" thuộc khu phố B, phường G, tỉnh Tây Ninh do anh Hà Văn K làm chủ thuê chuyển khoản cho T số tiền 15.000.000 đồng trả nợ cho bà Đặng Thanh V và chuyển khoản số tiền 10.000.000 trả nợ cho chị Đặng Thị Gia N (là chị ruột của T1). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T1 đem số tiền 23.000.000 đồng đến nhờ chị N giữ dùm, T1 tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.340.000 đồng, còn lại số tiền 82.410.000 đồng cất giấu trong nhà. Đến khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, sau khi đi khám bệnh về, ông L phát hiện bị mất trộm tiền nên trình báo Công an phường T, tỉnh Tây Ninh. Công an phường T mời T và T1 về làm việc và thu giữ số tiền 82.410.000 đồng. Ông Trừ Văn T2, bà Đặng Thanh V và chị Đặng Thị Gia N đã tự nguyện nộp lại tổng số tiền 60.250.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, quyết định (tóm tắt):

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2025 đến ngày 13/9/2025.

- Xử phạt bị cáo Đặng Chí T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2025.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo của các bị cáo và bị hại theo quy định của pháp luật.

* Ngày 06/9/2025, bị hại Trần Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho 02 bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 được hưởng án treo.

* Ngày 07/10/2025, bị cáo Đỗ Thị Thu T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Đỗ Thị Thu T và con của bị cáo là bị cáo Đặng Chí T1 được hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đỗ Thị Thu T trình bày ý kiến: rút lại yêu cầu kháng cáo đối với bị cáo Đặng Chí T1; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Bị hại Trần Văn L trình bày ý kiến: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho 02 bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến: Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi một phần, phần còn lại các bị cáo đã tác động gia đình nộp lại trả đủ cho bị hại, bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 01 (một) năm tù và xử phạt bị cáo T1 09 (chín) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo gây ra.

+ Xét kháng cáo của bị cáo T, tại phiên toà qua giải thích của Chủ toạ phiên toà, bị cáo xin rút lại nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo T1 được hưởng án treo là phù hợp. Đối với kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo, thấy rằng, trong vụ án này bị cáo và bị cáo T1 là mẹ con ruột với nhau, bị cáo và bị hại Lữ có quan hệ mật thiết, chung sống với nhau như vợ chồng thời gian dài và hiện còn đang chung sống, bị hại L đang bị bệnh ung thư vòm họng giai đoạn cuối, bị cáo là người trực tiếp chăm lo việc ăn uống, điều trị bệnh của bị hại L, xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có đủ điều kiện tiếp tục chăm lo cho bị hại Lữ.

+ Đối với kháng cáo của bị hại L xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho cả 02 bị cáo T và T1 được hưởng án treo: như đã phân tích trên, cần chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại L đối với bị cáo T. Riêng đối bị cáo T1, hiện tại đang sống chung với bị cáo T, bị cáo còn có 01 người em trai song sinh, bị cáo T còn trong độ tuổi lao động nên bị cáo T1 không phải là lao động chính, duy nhất trong gia đình, nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị hại L.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại L đối với bị cáo T, không chấp nhận kháng cáo của bị hại L đối với bị cáo T1; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo T, xử phạt bị cáo T 01 năm tù, cho hưởng án treo, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo T1.

Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 trình bày ý kiến: bị hại L và bị cáo T chung sống với nhau như vợ chồng, bị cáo T là người trực tiếp chăm lo cho bị hại L từ sinh hoạt ăn, uống, thuốc men; các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường đủ cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo T1, tại cấp phúc thẩm nộp bổ sung giấy khen bị cáo được tặng thưởng do có thành tích xuất sắc trong thời gian tại ngũ, giấy xác nhận gia đình bị cáo có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T được hưởng án treo, xử phạt bị cáo T1 mức hình phạt bằng thời gian bị cáo T1 bị tạm giữ, tạm giam, trả tự do cho bị cáo T1 ngay tại phiên toà.

Trong phần đối đáp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến: người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo T hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là không có căn cứ, bởi vì bị cáo T do thiếu nợ và thiếu tiền tiêu xài nên thực hiện hành vi phạm tội, việc bị cáo T nợ tiền người khác là do bị cáo tự tạo ra, không phải do người khác tạo ra cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo T.

Người bào chữa cho bị cáo T không trình bày tranh luận gì thêm.

Các bị cáo Đỗ Thị Thu T, Đặng Chí T1 và bị hại Trần Văn L không tranh luận.

Các bị cáo Đỗ Thị Thu T, Đặng Chí T1 nói lời sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T lập ngày 01/10/2025 và đơn kháng cáo của bị hại Trần Văn L lập ngày 06/10/2025 gửi Toà án cấp sơ thẩm còn trong thời hạn luât định; nội dung kháng cáo của bị hại L và nội dung kháng cáo của bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo là hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Đối với nội dung kháng cáo của bị cáo T về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Đặng Chí T1 được hưởng án treo, thấy rằng, bị cáo T1 sinh năm 2002, khi thực hiện hành vi phạm tội (vào ngày 06/6/2025) đã trên 18 tuổi, không bị nhược điểm về thể chất, tâm thần, không cần có người đại diện hợp pháp, nên bị cáo T kháng cáo thay bị cáo T1 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên toà, bị cáo T rút yêu cầu kháng cáo này là phù hợp, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cáo kháng cáo này của bị cáo T theo quy định tại khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của các bị cáo thực hiện:

Do không có tiền tiêu xài và trả nợ, biết được bị hại Trần Văn L mới rút số tiền tiết kiệm 700.000.000 đồng (là tài sản riêng của bị hại L) gửi ở Ngân hàng A - Chi nhánh T đem về nhà cất giữ trong tủ ở buồng ngủ của bị hại L; biết được chìa khoá phòng ngủ và chìa khóa tủ của bị hại L gắn chung với chìa khóa xe môtô, nên Đỗ Thị Thu T rủ và bàn bạc với Đặng Chí T1, T sẽ giả vờ mượn xe môtô của bị hại L đi công việc để đưa cho T1 đi làm chìa khóa phụ và thống nhất đến ngày 06/6/2025, khi T và bị hại L đi khám bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, T1 sẽ lén lút vào nhà bị hại L, sử dụng 02 chìa khóa phụ mở cửa phòng ngủ và cửa tủ để lấy trộm tiền thì T1 đồng ý. Thực hiện kế hoạch đã bàn bạc, T mượn xe mô tô của bị hại L, đưa cho T1 và T1 đã thuê người làm được 02 chìa khoá phụ (khoá cửa tủ và khoá cửa phòng ngủ của bị hại L), đến khoảng 03 giờ ngày 06/6/2025, T điều khiển xe môtô biển số 70LA-067.22 chở T1 đến nhà bị hại L; khi đến cổng nhà bị hại L thì T1 xuống xe, đứng đợi, còn T chạy xe vào trong nhà bị hại L và đi ra phía sau, mở sẵn cửa hông, sau đó đi ra phía trước nhà cảnh giới và dùng tay ra hiệu cho T1 đi vào nhà bị hại L bằng cổng phụ. Khoảng 05 phút sau, bị hại L và T rời khỏi nhà, đi khám bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, T1 mở cửa hông, đi vào bên trong nhà dùng nón che camera trong phòng khách rồi đi đến phòng ngủ của bị hại L, dùng 02 chìa khóa đã làm sẵn mở cửa phòng và cửa tủ trong phòng lấy số tiền 145.000.000 đồng rồi đi về nhà T1 cất giấu. Đến khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, sau khi đi khám bệnh về, bị hại L phát hiện bị mất trộm tiền nên trình báo Công an phường T, tỉnh Tây Ninh. Công an phường T đã mời T và T1 làm việc, T và T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T và bị hại Trần Văn L, thấy rằng:

[3.1] Các bị cáo Đỗ Thị Thu T và Đặng Chí T1 phạm tội nghiêm trọng, thực hiện tội phạm có tổ chức, bị cáo T có vai trò chính, là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T1 (là con ruột của bị cáo), tạo mọi điều kiện thuận lợi (mượn xe mô tô của bị hại L để T1 làm thêm chìa phụ của khoá tủ và khoá phòng ngủ, mở của nhà của bị hại L, ...) để Tâm thực hiện hành vi lấy trộm số tiền 145.000.000 đồng của bị hại L; khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, mới lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi một phần, phần còn lại các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đủ cho bị hại; bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đồng thời bị cáo T và bị hại có mối quan hệ thân thiết chung sống với nhau như vợ chồng, là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc bị hại vì hiện tại bị hại Lữ bệnh ung thư vòm họng giai đoạn cuối, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T 01 năm tù, bị cáo T1 09 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà 02 bị cáo bị truy tố xét xử, là phù hợp, không nặng.

[3.2] Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo T và T1 là mẹ con ruột với nhau, bị cáo T chung sống như vợ chồng với bị hại; trước khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại, T là người chung sống với bị hại L như vợ chồng, trực tiếp chăm lo việc ăn uống, điều trị bệnh cho bị hại Lữ; bản thân T cũng đang mắc nhiều bệnh đang điều trị như: bệnh đau thắt ngực, rối loạn và tăng lipit máu, bệnh đái tháo đường, thiếu máu, suy thận cấp, viêm gan, viêm phổi, nhiễm độc giáp (cường giáp),..., bị hại L cũng tha thiết xin cho T được hưởng án treo; bị cáo T có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đồng thời nhằm tạo điều kiện cho bị cáo T có đủ điều tiếp tục được trực tiếp chăm lo việc ăn uống, điều trị bệnh của bị hại L, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và kháng cáo của bị hại L đối với bị cáo T, cho bị cáo T được hưởng án treo cũng đảm bảo đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo T, đồng thời cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[3.3] Riêng đối bị cáo Đặng Chí T1, tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị cáo có nộp bổ sung bản phô tô Giấy khen bị cáo được tặng thưởng do có thành tích xuất sắc trong thời gian tại ngũ, giấy xác nhận gia đình bị cáo có công với cách mạng, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục [3.1], khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội có tổ chức, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo thực hiện, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn L xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Đặng Chí T1 được hưởng án treo.

[4] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T; chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trần Văn L đối với bị cáo T, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lữ đối với bị cáo Đặng Chí T1; chấp nhận một phần đề nghi của người bào chữa cho các bị cáo T và T1; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh; sửa bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thị Thu T không phải chịu. Bị hại Trần Văn L không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T đối với quyết định hình phạt của bị cáo Đặng Chí T1;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu T;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trần Văn L;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh.

1. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08/01/2026).

1.2. Giao bị cáo Đỗ Thị Thu T cho Uỷ ban nhan dân phường T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhan dân phường T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

1.3. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

1.4. Trong thời gian thử thách, nếu người bị kết án cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Chí T1 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài tản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2025.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Thị Thu T và bị hại Trần Văn L không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC (Vụ 1);
  • - Phòng GĐKT,TT&THA TA tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND KV12 - Tây Ninh;
  • - VKSND KV12 - Tây Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PC01 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Phân trại tạm giam Gia Lộc - Tây Ninh;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Ngầu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HS-PT ngày 08/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 05/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08/01/2026)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger