Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HS-PT

Placeholder

Ngày: 09/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc.

Các Thẩm phán: 1/- Ông Võ Bảo Anh.

2/- Ông Nguyễn Hữu Bằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 234/2025/TLPT-HS ngày 06/11/2025 đối với bị cáo Đàm Khắc N và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Đàm Khắc N, sinh ngày 27/10/2006 tại T, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đàm Văn B và bà Nguyễn Ngọc H. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

2. Họ và tên: Đinh Hoàng T, sinh ngày 06/8/2004 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đinh Văn P và bà Lê Thị Ngọc T1. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

3. Họ và tên: Trần Tấn T2, sinh ngày 29/12/2005 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn Đ và bà Hồ Thị Mỹ T3. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

4. Họ và tên: Huỳnh Phước V, sinh ngày 31/01/2005 tại T, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Huỳnh Phước L và bà Nguyễn Thanh T4. Bị cáo chưa có vợ con;

2

Tiền án, tiền sự: Không.

5. Họ và tên: Nguyễn Nhật T5, sinh ngày 24/4/2005 tại T, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn K và bà Phan Thị D. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

6. Họ và tên: Nguyễn Nhựt C, sinh ngày 28/10/2003 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn T6 và bà Lê Thị C1. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

7. Họ và tên: Đỗ Trung H1, sinh ngày 15/7/2004 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Văn L1 và bà Nguyễn Thị D1. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

8. Họ và tên: Trần Quốc K1, sinh ngày 21/10/2006 tại T, Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Trung N1 và bà Trần Thị T7. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

9. Họ và tên: Trương Công Đ1, sinh ngày 04/12/2003 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: khu V, phường N, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Q và bà Nguyễn Bích P1; V1 là Phạm Tường V2, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

10. Họ và tên: Võ Minh Đức M, sinh ngày 05/12/2003 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: khu V, phường N, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Minh T8 và bà Nguyễn Thị Đ2. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Tấn T2 đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố C; còn lại các bị cáo khác tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Nhựt C, Đinh Hoàng T, Trần Quốc K1, Huỳnh Phước V và Đỗ Trung H1 là: Luật sư Nguyễn Văn Ú, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Minh Đức M: Luật sư Bạch Sỹ C2 và B Bằng Văn phòng Luật sư Bạch Sỹ C2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

Trong vụ án còn có 14 bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

3

Theo hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây, giữa Trần Tấn T2 (ở ấp A, xã T, thị xã N) với Trần Phùng Minh T9 (ở ấp V, xã V, thị xã N) có mâu thuẩn trong quan hệ yêu đương trai gái, từ đó hai bên nhắn tin qua lại thách thức đánh nhau. Đến giữa tháng 02/2023 trong lúc T2 đi chơi ở cầu B (ấp L, xã T, thị xã N) thì bị nhóm của T9 chặn đường đánh. Tức giận do bị đánh, nên T2 điện thoại rủ T9 tiếp tục đi ra cầu B để đánh nhau lần nữa nhưng T9 không đến.

Ngày 01/3/2023 trong lúc đi chơi, T2 gặp Đinh Hoàng T cùng một số người khác đang uống cà phê, T2 nói cho T và nhóm bạn biết là “Đã hẹn T9 ra cầu B để chém nhau, nhưng T9 không đến”. T2 nhờ T điện thoại rủ T9 chọn địa điểm (mỗi bên đi vào một đoạn đường) để gặp nhau giải quyết mâu thuẩn; Nghe vậy T về nhà và sau đó nhắn tin qua Facebook cho Đặng Xuân H2 (là bạn của T9) nhờ H2 nói lại với T9 chọn địa điểm hai bên gặp để đánh nhau. Sau đó H2 nhắn tin trao đổi với T và hai bên thống nhất chọn địa điểm gặp nhau tại khu vực cầu ngã ba C (thuộc ấp M, xã L, thị xã N) thời gian gặp nhau vào lúc 21 giờ ngày 02/3/2023 để đánh nhau. Ngay sau đó, T điện thoại thông báo cho T2 biết đã hẹn được với nhóm của T9 về thời gian, địa điểm đánh nhau để T2 chuẩn bị.

Khoảng 19 giờ ngày 02/3/2023 T2 điện thoại rủ Huỳnh Phước V và Nguyễn Nhật T5 tối nay tham gia đánh nhau với nhóm của T9, thì V và T5 đồng ý rồi chạy xe mô tô về nhà Trường lấy hung khí tự chế gồm dao, búa, phản và rủ thêm Trần Quốc Đ3 cùng đi theo. Tất cả đi đến quán nước bà T10 (đối diện nhà T2), thì gặp T2, T và Đỗ Trung H1 đang có mặt tại quán nước. Lúc này T2 lấy xăng đổ vào 5 - 6 chai thủy tinh (chai bia) để làm bom xăng, sau đó T2 điện thoại cho Nguyễn Nhựt C rủ tham gia đánh nhau, khi đó C đang đi chơi tại thị trấn P, huyện T nghe vậy liền rủ thêm một số bạn bè khác để cùng tham gia đánh nhau với nhóm của T9. Sau đó C đi cùng với Nguyễn Triệu P2, Trần Gia K2, Đàm Khắc N, Trần Dũng S, Nguyễn Đăng K3,Trần Quốc K1 và rủ thêm Trần Hoàng D2, Trần Đăng K4, Vũ N2, V3, B1, T11, T8, L2, T12, T13 và Q1 đã chuẩn bị hung khí dao tự chế, gậy ba khúc, võ chai bia tập trung tại cầu A (thuộc xã T, huyện T) để đi vào cầu ngã ba C (N) theo địa điểm mà T2 đã hẹn trước.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T2 sau khi liên lạc qua điện thoại biết được nhóm của C (ở xã T) đang trên đường đi vào thị xã N. Lúc này T2 lấy 5 - 6 chai thủy tinh chứa xăng (bom xăng), còn V, T5, H1 và T cầm hung khí tự chế dao, búa và phản; riêng Đ3 không cầm hung khí, tất cả lên xe mô tô chuẩn bị chạy đi thì ông Trần Văn Đ (cha của T2) ngăn cản không cho T2 đi. Do đó T2 giao lại các chai bom xăng cho T5, còn T2 bỏ đi vô nhà. Khi tất cả đang trên đường đi về hướng cầu ngã ba C, thì T2 điện thoại cho V kêu tất cả dừng xe lại chờ nhóm của C (ở xã T) đến sẽ tập trung cùng đi. Khi nhóm của C đến, tất cả cùng chạy xe đi về hướng cầu ngã ba C.

Trên đường đi gần đến cầu C thì Trần Hoàng D2, Trần Đăng K4 và Trần Quốc Đ3 tự ý không tham gia và quay đầu xe trở về nhà. Số còn lại tiếp tục đi đến cua quẹo gần dốc cầu M (củ) thì dừng lại, lúc này Huỳnh Phước V, Nguyễn

4

Nhật T5, Đỗ Trung H1, Đinh Hoàng T, Nguyễn Nhựt C, Trần Gia K2, Đàm Khắc N, Trần Dũng S, Nguyễn Đăng K3, Nguyễn Triệu P2, Trần Quốc K1, Vũ N2, V3, B1, T11, T8, L2, T12, T13 và Q1 đều có cầm hung khí tự chế: dao, gậy ba khúc, búa, phản, khúc gỗ và bom xăng rồi đi bộ qua khu vực cầu C. Sau khi quan sát thấy nhóm của Trần Phùng Minh T9 không đến, thì C điện thoại về cho T2 nói “Nhóm của T9 không ra”, nghe vậy T2 điện thoại cho Đặng Xuân H2 nói “Tụi tao ra tới ngả ba rồi nè”. Cùng lúc đó Trần Gia K2 và Đàm Khắc N cũng dùng điện thoại chụp hình ảnh cả nhóm đang đứng trên cầu C để gửi tin nhắn, hình ảnh qua Zalo cho H2 biết.

Đặng Xuân H2 đang uống rượu cùng với nhóm bạn ở quán nhậu gần cổng Trung tâm y tế khu vực N, nhận tin nhắn từ Z “Khắc Nguyên” và “Gia K2” biết nhóm của T2 đã đến điểm hẹn, nên H2 điện thoại cho Trần Phùng Minh T9 nói “Nhóm của T2 đến rồi”, nói xong H2 chạy xe đi lên cầu Cống Đá để rủ thêm bạn bè tham gia. Sau đó H2 chở Nguyễn H3 và Trương Nhật  đi trước, Võ Minh Đức M chở Trương Công Đ1 và Lâm Văn M1 chạy theo sau đi về hướng cầu C. Đối với Trần Phùng Minh T9 khi đó đang uống rượu tại nhà Nguyễn Văn V4 (ở ấp M, xã L, thị xã N) hay tin, liền rủ V4, La Nhật T14, Lâm H4, Phan Minh S1 và Trần Hoàng H5 cùng đi lên cầu C để đánh nhau với nhóm của T2. Khi nhóm của T9 và nhóm của H2 gặp nhau gần khu vực cầu C, gồm có Trần Phùng Minh T9, Nguyễn Văn V4, La Nhật T14, Lâm H4, Phan Minh S1, Trần Hoàng H5, Đặng Xuân H2, Nguyễn H3, Trương Nhật Â, Trương Công Đ1 và Lâm Văn M1 tất cả đều cầm hung khí tự chế dao, gậy ba khúc, ống tuýp sắt, khúc gỗ và võ chai bia tiếp tục đi bộ về phía cầu C; riêng Võ Minh Đức M ở lại giữ xe chờ khi nào đánh nhau xong chở đi về.

Khi hai bên gặp nhau tại khu vực cầu C, cả hai bên đều la hét thách thức rồi dùng bom xăng, võ chai bia, khúc gỗ và nhặt gạch đá, ném qua lại với nhau. Trong lúc xô xát thì Trần Gia K2, Nguyễn Triệu P2, Trần Dũng S, Đàm Khắc N và Nguyễn Đăng K3 rượt đuổi đánh Lâm Văn M1 nên M1 bỏ chạy đến gần dốc cầu M (cũ) thì bị K2 chụp két bia (bằng nhựa) ném làm cho M1 té ngã xuống lề lộ. Lúc này K2, P2, S và K3 dùng dao tự chế, còn N cầm gậy ba khúc đánh, chém vào người M1. Sau đó nhóm của T2 cầm hung khí tiếp tục rượt đuổi đánh với nhóm của T9, đến khi nhóm của T9 bỏ chạy hết mới ngừng lại và cùng đi về. Trên đường về, sợ bị Công an phát hiện nên một số tên đã ném bỏ hung khí xuống sông để phi tang.

Tại thời điểm hai bên đánh, chém nhau thì các phương tiện tham gia giao thông trên đường đều phải dừng lại hai bên cầu C gây ách tắc giao thông, còn những người sinh sống, sinh hoạt gần khu vực cầu C cũng hoảng sợ bỏ chạy gây mất an ninh trật tự khu vực này.

Đối với Lâm Văn M1 sau khi bị thương đã được bạn bè đưa đến Trung tâm y tế N3 cấp cứu, sau đó gia đình chuyển lên Bệnh viện Đ4 tiếp tục điều trị đến ngày 07/3/2023 được xuất viện về nhà. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 289/KLTTCT-TTPYST ngày 30/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S, thì Lâm Văn M1 bị tổn thương:

5

  • - Sẹo ngón 2,3,4,5 bàn tay phải, kích thước nhỏ, gãy đốt gần ngón 5, đứt gân duỗi ngón 2,3,4,5 đã được khâu nối không gây ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (Một phần trăm), 01% (Một phần trăm), 01% (Một phần trăm), 01% (Một phần trăm) và 02% (Hai phần trăm).
  • - Sẹo vùng mặt sau khuỷu trái, kích thước lớn gãy mỏm khuỷu + lồi cầu trong cánh tay trái, đứt thần kinh trụ trái đã được phẫu thuật khâu nối, dẫn truyền thần kinh vận động, cảm giác của dây thần kinh trụ trái mất, khớp khuỷu vận động được trong khoảng 45° - 90°, ảnh hưởng chức năng duỗi ngón 4,5. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 31% (Ba mươi mốt phần trăm), 03% (Ba phần trăm) và 26% (Hai mươi sáu phần trăm).
  • - Sẹo phần mềm mu bàn tay trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm).
  • - Bề mặt bờ các vết sẹo trên sắc - gọn.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lâm Văn M1 tại thời điểm giám định là: 54% (Năm mươi bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Thương tích có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên.

Về vật chứng vụ án: Ngày 06/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N ra quyết định thu giữ tài sản, đồ vật gồm:

  • + 01 (một) gậy ba khúc bằng kim loại, phần tay cầm có ốp nhựa màu đen, chiều dài 24cm, chiều dài khi dủ ra là 65cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, màu trắng có chiều dài 69cm, phần cán dao dài 19cm được quấn bằng dây dù, lưỡi dao dài 50cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 06cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, màu đen có chiều dài 56cm, phần cán dao dài 13cm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao dài 43cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 07cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, màu trắng có chiều dài 57cm, phần cán dao dài 16cm được quấn bằng dây dù, lưỡi dao dài 41cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 07cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, có chiều dài 33cm, phần cán dao dài 13cm bằng gỗ, lưỡi dao dài 20cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 02cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, màu trắng, có chiều dài 66cm, phần cán dao dài 18cm được ốp bằng gỗ và quấn băng keo màu đen, lưỡi dao dài 48cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 4,4cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, có chiều dài 54cm, phần cán dao dài 12cm, lưỡi dao dài 42cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 3,5cm.
  • + 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, màu đen có chiều dài 72cm, phần

6

cán dao dài 21cm, lưỡi dao dài 51cm có cạnh sắt và nơi rộng nhất 07cm.

+ 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại, có chiều dài 72,5cm, phần cán dao dài 20cm bằng gỗ được quấn băng keo màu đen, lưỡi dao dài 52,5cm có cạnh sắt, mũi nhọn và nơi rộng nhất 03cm.

+ 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình, mảnh nhỏ nhất có kích thước (3,5x3,0) cm, mảnh lớn nhất (8,5x6,0) cm.

+ 09 (chín) mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình, mảnh nhỏ nhất có kích thước (3,0x1,5) cm, mảnh lớn nhất (12,5x6,5) cm.

+ 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không rõ hình, mảnh nhỏ nhất có kích thước (3,4x2,0) cm, mảnh lớn nhất (5,2x6,0) cm.

Các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Cần Thơ quản lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Lâm Văn M1 đã nhận số tiền bồi thường 140.000.000đ và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Đàm Khắc N, Đinh Hoàng T, Trần Tấn T2, Huỳnh Phước V, Nguyễn Nhật T5, Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1, Trần Quốc K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Các bị cáo Trương Công Đ1, Võ Minh Đức M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 12, khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Đàm Khắc N, Trần Tấn T2, Nguyễn Nhật T5, Trần Quốc K1.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Hoàng T, Huỳnh Phước V.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trương Công Đ1, Võ Minh Đức M.

  1. Xử phạt bị cáo Đàm Khắc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Tấn T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T5 02 (hai) năm tù.
  4. Xử phạt bị cáo Trần Quốc K1 02 (hai) năm tù.
  5. Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T 03 (ba) năm tù.
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt C 03 (ba) năm tù.

7

  1. Xử phạt bị cáo Đỗ Trung H1 03 (ba) năm tù.
  2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước V 03 (ba) năm tù.
  3. Xử phạt bị cáo Võ Minh Đức M 02 (hai) năm tù.
  4. Xử phạt bị cáo Trương Công Đ1 02 (hai) năm tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với 14 bị cáo không kháng cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23/9/2025 bị cáo Đàm Khắc N, Nguyễn Nhựt C, Trần Quốc K1, Nguyễn Nhật T5 có đơn kháng cáo; Ngày 26/9/2025 bị cáo Huỳnh Phước V có đơn kháng cáo; Ngày 03/10/2025 bị cáo Võ Minh Đức M có đơn kháng cáo; Ngày 07/10/2025 bị cáo Trương Công Đ1 có đơn kháng cáo; cùng xin được hưởng án treo.

Ngày 23/9/2025 bị cáo Đinh Hoàng T, Đỗ Trung H1 có đơn kháng cáo; Ngày 06/10/2025 bị cáo Trần Tấn T2 có đơn kháng cáo; cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: ngoài bị cáo Võ Minh Đức M xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo còn lại đều rút yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: đối với các bị cáo đã rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét là sự tự nguyện không trái quy định pháp luật nên căn cứ Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với 09 bị cáo đã rút kháng cáo. Riêng bị cáo Võ Minh Đức M vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Tuy nhiên, xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được; đồng thời bản án sơ thẩm còn có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật mà cấp phúc thẩm không thể sửa án. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Minh Đức M phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đàm Khắc N, Đinh Hoàng T, Trần Tấn T2, Huỳnh Phước V, Nguyễn Nhật T5, Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1, Trần Quốc K1 và Trương Công Đ1 xác định rút lại yêu cầu kháng cáo. Xét việc rút yêu cầu kháng cáo là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với

8

yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

[3] Do bị cáo Võ Minh Đức M vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, căn cứ Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành. Xét quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo có tham gia đánh nhau như Trần Tấn T2, Đinh Hoàng T, Đàm Khắc N, Nguyễn Triệu P2, Trần Dũng S, Trần Gia K2, Nguyễn Đăng K3, Huỳnh Phước V, Nguyễn Nhật T5, Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1 và Trần Quốc K1 về tội “Cố ý gây thương tích”; còn các bị cáo không tham gia đánh nhau như Trần Phùng Minh T9, Đặng Xuân H2, Trần Hoàng H5, Nguyễn H3, La Nhật T14, Trương Công Đ1, Trương Nhật Â, Phan Minh S1, Nguyễn Văn V4, Lâm H4, Lâm Văn M1 và Võ Minh Đức M về tội “Gây rối trật tự công cộng” là chưa điều tra làm rõ, đánh giá đúng bản chất vụ án, cũng như còn có những thiếu sót như sau:

[3.1] Tại thời điểm hai nhóm đánh, chém nhau là khoảng 21 giờ đêm; tại khu vực này có các hộ dân sinh sống, trên đường lộ có các phương tiện tham gia giao thông qua lại. Hành vi đánh, chém nhau, hò hét la lối giữa đêm khuya của cả 02 nhóm tất yếu có ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Nhưng hồ sơ chưa thể hiện đầy đủ việc thu thập tài liệu, chứng cứ, như lời khai của những người có mặt tại hiện trường vụ án, các hộ dân sinh sống xung quanh khu vực nhằm làm rõ diễn biến vụ việc, thời gian xảy ra hành vi, mức độ và hậu quả của hành vi gây rối do các bị cáo thực hiện, cũng như mức độ ảnh hưởng của hành vi này đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[3.2] Các bị cáo của cả hai nhóm đều có hành vi xâm phạm đến khách thể là trật tự chung xã hội, vi phạm nếp sống văn minh, các quy tắc chuẩn mực đạo đức xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng. Hành vi đó đã có dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng trong quá trình điều tra chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ hành vi của các bị cáo Trần Tấn T2, Đinh Hoàng T, Đàm Khắc N, Nguyễn Triệu P2, Trần Dũng S, Trần Gia K2, Nguyễn Đăng K3, Huỳnh Phước V, Nguyễn Nhật T5, Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1 và Trần Quốc K1 thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa xác định, đánh giá đầy đủ mức độ ảnh hưởng của các hành vi này đối với tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, từ đó làm cơ sở xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật, tránh việc bỏ lọt tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Nhựt C, Đỗ Trung H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, nhưng tuyên phạt mức án 03 năm tù lại không nhận định, không phân tích lý do vì sao áp dụng dưới khung hình phạt, cũng như khi quyết định hình phạt không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự làm căn cứ là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

[5] Từ những nhận định nêu trên, có đủ căn cứ xác định việc điều tra ở cấp sơ thẩm là chưa đầy đủ, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Đồng thời án sơ thẩm còn có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm được sửa bản án theo quy định tại

9

Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, cần hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ thẩm điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[6] Do bản án sơ thẩm đã bị hủy để điều tra, giải quyết lại nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Minh Đức M chưa được xem xét.

[7] Về án phí phúc thẩm: do bản án sơ thẩm bị hủy để điều tra, giải quyết lại, nên các bị cáo không phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.
  3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ để điều tra, giải quyết lại theo quy định pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TP Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng KV7-Cần Thơ ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HS-PT ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 05/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger