Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07-01-2026
V/v “tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mai Chiến Trực

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thùy Dương
  2. Ông Nguyễn Văn Hết

- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Hồng Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

Bị đơn: ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh D kết hôn năm 2008, hôn nhân do tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An vào ngày 01/9/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống bên gia đình ông D, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm, sau đó cũng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn. Năm 2021, bà phát hiện ông D có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác và đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay.

Nay bà xác định không còn tình cảm với ông D nên bà yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh D.

Về con chung: bà và ông D có 02 con chung là Nguyễn Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 và Nguyễn Yến Ng, sinh ngày 13/7/2011. Hai con chung hiện tại đang sống chung với bà nên sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà và ông D không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên bà không thể đến Tòa án tham gia phiên tòa được. Vì vậy, bà có đơn xin vắng mặt tại Tòa án và yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai lần triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Thanh D đến để tiến hành hòa giải nhưng ông D vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật: những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật; bị đơn không tuân thủ đúng quy định pháp luật trong việc tham gia tố tụng. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị B khởi kiện ông Nguyễn Thanh D yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Thanh D là bị đơn cư trú tại xã A, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Bà Nguyễn Thị B có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà B theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Thanh D là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông D vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Thanh D kết hôn với nhau vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại xã Tân Thành, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An vào ngày 01/9/2008, hôn nhân tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình hôn nhân, bà B cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng sống bên gia đình ông D, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm, sau đó cũng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn. Đến năm 2021, bà B phát hiện ông D có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác và đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay. Xét thấy, Tòa án đã triệu tập ông D để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông D vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà B thể hiện ông không muốn hàn gắn tình cảm với bà B. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà B và ông D là có thật và cả hai không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị B.

[2.2] Về con chung: bà B và ông Nguyễn Thanh D có 02 con chung là Nguyễn Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 và Nguyễn Yến Ng, sinh ngày 13/7/2011. Bà B trình bày, hiện tại 02 con chung đang ở cùng với bà B nên sau khi ly hôn, bà B yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét thấy, 02 con chung Nguyễn Khánh H1 và Nguyễn Yến Ng đang sống cùng với bà B và cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với bà B nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn của bà B, giao 02 con chung là Nguyễn Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 và Nguyễn Yến Ng, sinh ngày 13/7/2011 cho bà Nguyễn Thị B tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận bà B không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị B khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị B phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh D, cụ thể tuyên:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Nguyễn Thanh D.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Khánh H1, sinh ngày 11/5/2009 và Nguyễn Yến Ng, sinh ngày 13/7/2011 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thanh D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Thanh D có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị B khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị B phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005964 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Thanh D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND khu vực 9 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã Mộc Hóa, tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)



Mai Chiến Trực
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HNGĐ-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 05/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger