Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- HÀ NỘI

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 05/01/2026
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Yên

2. Ông Nguyễn Đức Lưu

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 7- Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý- Kiểm sát viên.

Ngày 05/01/2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7- Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 689/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/11/2025 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh ngày 14/12/1989; Nơi thường trú: thôn N, xã X, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: TTXN B, thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: 024089011576 cấp ngày 04/11/2025. Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt – vắng mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 17/10/1984; Nơi thường trú: thôn H, xã V, thành phố Hà Nội; Căn cước công dân số: 001184056313 cấp ngày 16/09/2022. Chị D hiện đang thi hành án phạt tù tại: Đ, P, Trại giam Q, tỉnh Tuyên Quang. Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt – vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn K kết hôn với chị Nguyễn Thị D trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 02/3/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng anh K, chị D sống tại tập thể xí nghiệp B1, thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn do chị D không tập trung làm ăn kinh tế dẫn đến nợ nần nhiều người. Vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, cãi vã và không tìm được tiếng nói chung. Do anh K, chị D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn đã ảnh hưởng nhiều đến học tập của các con. Anh chị vẫn cố gắng chung sống với nhau để cùng chăm sóc các con nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Ngày 01/9/2023, chị D bị bắt về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chị D bị Tòa án xử phạt 14 năm tù và hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Đ, P, Trại giam Q, tỉnh Tuyên Quang.

Anh K xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không còn chung sống cùng nhau nhiều năm do chị D phải đi cải tạo thi hành án phạt tù. Anh K xin được ly hôn với chị D để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh K và chị D có 02 con chung là cháu Nguyễn Ái N, sinh ngày 27/01/2012 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 16/02/2018; anh chị không có con chung, con riêng và con nuôi nào khác. Cháu N và cháu B đều đang sống cùng with anh K, sức khỏe các cháu tốt và các cháu vẫn đang đi học bình thường. Nếu ly hôn, anh K đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung bởi chị D đang trong trại cải tạo. Anh K hiện nay đang làm lái xe, thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Anh K không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị D xác định vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 02/3/2011. Chị D xác định vợ chồng có mâu thuẫn và hạnh phúc gia đình không thể níu kéo và anh K có quyền yêu cầu ly hôn đối với chị. Chị D vẫn còn một thời gian dài chấp hành án tại trại giam nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định pháp luật.

Về con chung: chị và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Ái N, sinh ngày 27/01/2012 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 16/02/2018. Ngoài ra anh chị không có con chung, con riêng và con nuôi nào khác. Do đang phải thi hành án phạt tù nên chị đề nghị giải quyết vấn đề con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Toà án giải quyết.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Nguyễn Thị D.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ái N, sinh ngày 27/01/2012 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 16/02/2018 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị D.

+ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Anh K phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị D có đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi bị bắt là: Thôn H, xã V, thành phố Hà Nội. Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối with các đương sự theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị D kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/3/2011 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2011 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là xã V, thành phố Hà Nội) nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn K: Sau khi kết hôn anh K, chị D sống tại tập thể xí nghiệp B1, thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn. Đến ngày 01/9/2023, chị D bị bắt về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chị D bị Tòa án xử phạt 14 năm tù và hiện đang chấp hành án phạt tù..

Hiện tại, cả hai anh chị đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn và đều nhất trí việc ly hôn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Nguyễn Thị D để các bên ổn định cuộc sống riêng.

[4] Về con chung: Anh K và chị D có 02 con chung là cháu Nguyễn Ái N, sinh ngày 27/01/2012 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 16/02/2018. Ngoài ra anh chị không có con chung, con riêng và con nuôi nào khác. Hiện nay cháu N và cháu B đều đang sống ổn định với anh K. Chị D đang chấp hành án phạt tù nên yêu cầu của anh K về việc trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các cháu. Anh K không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung, chị D đang chấp hành án phạt tù nên dành yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi anh K, chị D có yêu cầu.

[5] Về tài sản chung: Anh K, chị D đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Anh K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- Hà Nội về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn K đối với chị Nguyễn Thị D. Anh Nguyễn Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị D.
  2. Về con chung: Giao hai con chung của anh Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị D là cháu Nguyễn Ái N, sinh ngày 27/01/2012 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 16/02/2018 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
    Dành yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi anh K, chị D có yêu cầu.
  3. Về tài sản chung: do anh K, chị D không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ mà anh K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25E số 0017522 ngày 25/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự KV 7 - Thi hành án dân sự thành phố H. Anh K đã nộp đủ án phí LHST.
  5. Về kháng cáo: Anh Nguyễn Văn K, chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.
Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 7;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 7 – Hà Nội;
  • - UBND xã Vĩnh Thanh, thành phố Hà Nội (GCN kết hôn số 27 ngày 02/3/2011 của UBND xã Hải Bối cũ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Anh Đoàn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2026/HNGĐ-ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 05/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa anh Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger