Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 04/2025/HSST

Ngày 31-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang;
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Nở
  • Bà Lê Thị Phương

- Thư ký phiên toà: Vũ Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/HSST ngày 15 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

  • - Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1988 tại tỉnh Ninh Bình;
  • - Chỗ ở hiện nay: Bản M, xã B, tỉnh Lai Châu;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
  • - Nghề nghiệp: Giám đốc (Kinh doanh);Trình độ học vấn: 09/12;
  • - CCCD: 035088009290, cấp ngày11/8/2021,nơi cấp C06 Bộ C1;
  • - Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;
  • - Họ tên bố: Đinh Văn V, sinh năm 1964;
  • - Họ tên mẹ: Đỗ Thị L, sinh năm 1960;
  • Hiện bố, mẹ bị cáo đang cư trú tại thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình;
  • - Anh, em ruột: có 04 chị, em; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;
  • - Vợ: Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1991;
  • - Bị can có 03 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2023;
  • Hiện vợ và các con của bị cáo đang cư trú tại bản Mấn, xã B, tỉnh Lai Châu;
  • - Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/10/2025 đến nay tại xã B, tỉnh Lai Châu- có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thuế cơ sở 4 tỉnh Lai Châu;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đăng H – Chức vụ: Quyền Trưởng Thuế cơ sở 4 tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị S, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Lỳ Sì H1 (Lỳ S), sinh năm 1991; Địa chỉ: Bản T, xã M tỉnh Lai Châu; Vắng mặt
  3. Ông Giàng A M, sinh năm 1997; Địa chỉ: Bản T, xã T, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt
  4. Bà Ly Pó D, sinh năm 1997; Địa chỉ: Bản H, xã B, tỉnh Lai Châu; Có mặt.
  5. Bà Hù Cố D1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Bản S, xã B, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt
  6. Ông Lù Văn B, sinh năm 1974; Địa chỉ: Bản N, xã B, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt
  7. Ông Lò Văn Á, sinh năm 1984; Địa chỉ: Bản M, xã M, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt
  8. Bà Đinh Thị K, sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản M, xã B, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hợp tác xã N có địa chỉ tại bản M, xã B, tỉnh Lai Châu được Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện M (cũ), tỉnh Lai Châu cấp giấy phép kinh doanh lần đầu ngày 08/01/2020, đăng ký thay đổi lần thứ năm ngày 29/8/2025, kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau. Về mặt pháp lý, Hợp tác xã do 07 thành viên góp vốn, gồm: (1) bị can Đinh Văn Q, (2) bà Hà Thị B1, sinh năm 1986; (3) ông Bùi Đình T, sinh năm 1988; (4) ông Đinh Văn Q1, sinh năm 1991, (5) ông Ma Văn K1, sinh năm 1982; (6) bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1991; (7) bà Đinh Thị K, sinh năm 1993 cùng trú tại xã M, tỉnh Lai Châu đứng tên thành lập, tuy nhiên trên thực tế việc thành lập, góp vốn, quản lý, điều hành và hưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Hợp tác xã N do một mình Đinh Văn Q là Giám đốc trực tiếp thực hiện thông qua việc mượn giấy tờ của các cá nhân nêu trên để hợp pháp hóa việc thành lập Hợp tác xã. Các cá nhân nêu trên đều không góp vốn, không tham gia thành lập, điều hành hoạt động kinh doanh và không được hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh của Hợp tác xã N.

Quá trình quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Hợp tác xã N, Đinh Văn Q không thuê kế toán mà nhờ Trần Thị S, sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã B, tỉnh Lai Châu làm giúp thủ tục tài chính, kế toán, thuế. Trong các năm 2023 – 2024, với mục đích giảm tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, bị can Đinh Văn Q đã tự mình thu thập căn cước công dân của khách hàng hoặc người đã từng làm thuê cho Hợp tác xã, sau đó chuyển cho Trần Thị S, nói dối về việc những cá nhân này đang trực tiếp làm việc tại Hợp tác xã và cung cấp thông tin về vị trí việc làm, mức lương... để nhờ S lập các hợp đồng lao động, chấm công, thanh toán tiền lương, các khoản phụ cấp. Trần Thị S mặc dù không làm việc tại Hợp tác xã N, nhưng tin tưởng thông tin do Q đưa ra nên đã soạn thảo các hợp đồng lao động, chấm công, thanh toán tiền lương, các khoản phụ cấp.... chuyển lại cho Q ký, xác nhận đóng dấu vào phần Hợp tác xã Nông nghiệp Quỳnh Lan, còn phần chữ ký người lao động thì Q tự ký hoặc nhờ những người đến mua hàng ký, xác nhận và không nói cho S biết. Sau khi hoàn thiện các thủ tục, Quỳnh chuyển lại nhờ Trần Thị S theo dõi, làm thủ tục kê khai thuế.

Với cách thức như trên, trong năm 2023, Đinh Văn Q thu thập căn cước công dân nhờ Trần Thị S soạn thảo 09 hợp đồng lao động, trong đó có 08 hợp đồng lao động đối với 08 cá nhân không làm việc thực tế tại Hợp tác xã N, gồm: (1) Giàng A M, sinh năm 1997, trú tại bản Tà Tổng, xã T; (2) Lù Văn B, sinh năm 1974, trú tại bản Nà Hừ 2, xã B; (3) Lỳ S, sinh năm 1991, trú tại bản Tó Khò, xã M; (4) Ly Pó D, sinh năm 1997, trú tại bản A, xã B; (5) Lò Văn Á, sinh năm 1984, trú tại bản Mường Tè, xã M; (6) Hù Cố D1, sinh năm 1998, trú tại bản Seo Hai, xã B; (7) Ly Phì C, sinh năm 1979, trú tại bản Nậm Cấu, xã B; (8) Ly Xé M1, sinh năm 1975, trú tại bản Đầu N, xã B. Tổng chi phí tiền lương và phụ cấp trả cho 08 cá nhân không làm việc thực tế tại hợp tác xã là 754.980.000 đồng (trong đó tiền lương là 630.000.000 đồng, phụ cấp là 124.980.000 đồng). Trong năm 2024, Đinh Văn Q nhờ Trần Thị S soạn thảo 09 hợp đồng lao động, trong đó có 07 hợp đồng lao động đối với 07 cá nhân không làm việc thực tế tại Hợp tác xã N, gồm: (1) Lù Văn B; (2) Lỳ Sì Hừ; (3) Ly Pó D; (4) Ly Xé M1; (5) Lò Văn Á; (6) Ly Phì C; (7) Hù Cố D1. Tổng chi phí tiền lương và phụ cấp của 07 người lao động là 703.520.000 đồng (trong đó tiền lương là 582.000.000 đồng, phụ cấp là 121.520.000 đồng). Cơ quan điều tra đã thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan và tiến hành trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 518/KL-GĐV, ngày 29/9/2025, của Thuế tỉnh Lai Châu, xác định: Hợp tác xã N có “hành vi sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng chi phí nhân công thực tế phát sinh trong năm 2023, 2024 dẫn đến làm tổng chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đó làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp với Ngân sách nhà nước” là hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023, năm 2024. Tổng số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng thêm qua giám định là 292.220.442 đồng (năm 2023: 151.516.442 đồng; năm 2024: 140.704.000 đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng:

  1. Toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp phép, thành lập Hợp tác xã N liên quan đến Điều lệ tổ chức, Danh sách thành viên góp vốn, Giấy đề nghị đăng ký, Biên bản họp;
  2. Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã lần đầu ngày 08/01/2020, đăng ký thay đổi lần 1, lần 2, lần 3, lần 4, lần 5 ngày 29/8/2025 (01 tập, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kinh tế xã B, tỉnh Lai Châu);
  3. Báo cáo tài chính, Tờ khai thuế, Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023, 2024 của của Hợp tác xã N (01 tập có đóng dấu giáp lai của T tỉnh Lai Châu);
  4. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2023 (01 tập, có đóng dấu đỏ của Hợp tác xã N vào từng sổ);
  5. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2023 (01 tập);
  6. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2023 (02 tập);
  7. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2024 (01 tập, có đóng dấu đỏ của Hợp tác xã N vào từng sổ);
  8. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2024 (02 tập);
  9. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2024 (02 tap),
  10. Tập hợp đồng mua bán hàng hóa 2023 + 2024 (01 tập);
  11. Tập hợp đồng lao động năm 2023 + 2024 (01 tập);
  12. Sao kê tài khoản của Hợp tác xã N tại Ngân hàng L1 từ ngày 01/01/2023 - 31/12/2024. (Làm tròn: 292.220.000 đồng)

Đinh Văn Q nộp tiền Trốn thuế tại Cơ quan điều tra.

* Các vấn đề liên quan khác của vụ án:

  1. Đối với Hà Thị B1, Bùi Đình T, Đinh Văn Q1, Ma Văn K1, Nguyễn Thị Lan A, Đinh Thị K là thành viên góp vốn theo Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã, kết quả điều tra xác định Q mượn giấy tờ tùy thân của các cá nhân nêu trên rồi tự đứng ra làm thủ tục đăng ký thành lập Hợp tác xã N, các cá nhân này không được bàn bạc, không giam gia góp vốn, không tham gia vào việc quản lý, điều hành và không được chia lợi nhuận từ doanh thu của Hợp tác xã N nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  2. Đối với Trần Thị S, kết quả điều tra xác định S giúp bị can Đinh Văn Q soạn thảo các hợp đồng lao động, lập các chức từ thanh toán tiền lương, phụ cấp và giúp Q thực hiện thủ tục kê khai thuế. Kết quả điều tra xác định S không làm việc tại Hợp tác xã nên không biết việc Đinh Văn Q cung cấp thông tin không đúng sự thật để trốn thuế, S không biết, không được bàn bạc và không được hưởng lợi từ hành vi trốn thuế của Đinh Văn Q nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  3. Đối với các cá nhân Giàng A M, Lù Văn B, Lỳ Sì H1, Ly Pó D, Lò Văn Á, Hù Cố D1, Ly Xé M và Ly Phì C, kết quả điều tra xác định những cá nhân này không biết việc bị can Đinh Văn Q sử dụng thông tin cá nhân của mình để lập khống hợp đồng, do đó không đặt vấn đề xem xét, xử lý với vai trò đồng phạm.

Tại bản cáo trạng số 09 /CT-VKSLC-P1 ngày 12/12/2025 đã đề nghị truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Đinh Văn Q về tội Trốn thuế quy định tại điểm d khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đinh Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với hồ sơ vụ án, phù hợp các lời khai của bị cáo, lời khai của những người liên quan, lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ tiền trốn thuế cho cơ quan cảnh sát điều tra, quá trình lao động sản xuất tại địa phương bị cáo được Ban chấp hành liên minh Hợp tác xã tỉnh L tặng Giấy khen, bị cáo có ông, bà ngoại tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo, cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và khắc phục hậu quả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo. Cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bằng việc nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế là 292.220.000 đồng, quá trình lao động sản xuất tại địa phương, bị cáo được Ban chấp hành liên minh Hợp tác xã tỉnh Lai Châu tặng Giấy khen. Bên cạnh đó bị cáo có bà ngoại tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, được quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 200, Điều 35, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Q phạm tội: “Trốn thuế”, xử phạt bị cáo Đinh Văn Q từ 500.000.000 đồng ( năm trăm triệu đồng) đến 600.000.000 đồng ( sáu trăm triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 292.220.442 đồng.

Về án phí: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí cáo trạng truy tố và luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì và không tranh luận với Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và khắc phục hậu quả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Thế cơ sở 4 tỉnh Lai Châu vắng mặt có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng được tòa án triệu đã tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong hai năm 2023 - 2024, trên địa bàn huyện M (nay là xã B), tỉnh Lai Châu, với mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, bị cáo Đinh Văn Q là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã N đã sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp bằng việc lập, chi khống lương và phụ cấp cho 15 hợp đồng lao động đối với 08 cá nhân không làm việc tại Hợp tác xã nhằm mục đích trốn thuế, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước theo Kết luận của cơ quan Thuế là 292.220.442 đồng ( Hai trăm chín mươi hai triệu, hai trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng) (trong đó năm 2023 là 151.516.442 đồng, năm 2024 là 140.704.000 đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý thuế dẫn đến thất thu ngân sách Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo điểm d khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bằng việc nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế là 292.220.000 đồng (làm tròn theo biên lai), quá trình lao động sản xuất tại địa phương, bị cáo được Ban chấp hành liên minh Hợp tác xã tỉnh Lai Châu tặng Giấy khen. Bị cáo có ông, bà ngoại tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về áp dụng hình phạt: Tội trốn thuế là loại tội nằm trong chương các tội xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế, khách thể xâm phạm của loại tội này là việc quản lý kinh tế của Nhà nước, gây thiệt hại trực tiếp đến tiền thuế của Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế, đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, gây dư luận xấu nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe phòng ngừa. Tuy nhiên do các khung hình phạt của tội này đều có quy định về hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội. Bị cáo Đinh Văn Q đã tự nguyện nộp hết các khoản tiền đã trốn thuế trong 02 năm 2023, 2024, đồng thời bị cáo xin được phạt tiền, nếu được Toà án chấp nhận cho bị cáo được phạt tiền, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình lao động làm việc lập thành tích xuất sắc, được tặng thưởng giấy khen. Xét thấy bị cáo Đinh Văn Q có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật hình sự, đã chứng minh được khả năng thi hành được hình phạt tiền của mình, nên cần chấp nhận đề nghị của bị cáo, phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là phạt tiền nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án đại diện thuế cơ sở 4 Lai Châu có ý kiến: Đến thời điểm hiện tại Hợp tác xã N đã thực hiện quyết toán thuế năm 2023, 2024. Thuế cơ sở 4 tỉnh Lai Châu đề nghị điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đúng quy định; thu hồi số tiền trốn thuế là 292.220. 442 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Thuế cơ sở D2 không có ý kiến gì thêm. Hội đồng xét xử nhận định số tiền 292.220.442 đồng là tiền bị cáo trốn thuế nên cần buộc bị cáo phải hoàn lại số tiền này cho T1 cơ sở 4 Lai Châu. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp đủ để hoàn thuế khắc phục hậu quả cho Cơ quan điều tra tại biên bản giao nhận ngày 24/10/2025. Hiện số tiền đang được lưu giữ tại Thi hành án Dân sự tỉnh Lai Châu.

[6] Về xử lý vật chứng là tài liệu thu giữ trong hồ sơ vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Lưu giữ vào hồ sơ vụ án toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án gồm:

  1. Toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp phép, thành lập Hợp tác xã N liên quan đến Điều lệ tổ chức, Danh sách thành viên góp vốn, Giấy đề nghị đăng ký, Biên bản họp;
  2. Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã lần đầu ngày 08/01/2020, đăng ký thay đổi lần 1, lần 2, lần 3, lần 4, lần 5 ngày 29/8/2025 (01 tập, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kinh tế xã B, tỉnh Lai Châu);
  3. Báo cáo tài chính, Tờ khai thuế, Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023, 2024 của của Hợp tác xã N (01 tập có đóng dấu giáp lai của T tỉnh Lai Châu);
  4. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2023 (01 tập, có đóng dầu đỏ của Hợp tác xã N vào từng sổ);
  5. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2023 (01 tập);
  6. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2023 (02 tập);
  7. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2024 (01 tập, có đóng dấu đỏ của Hợp tác xã N vào từng số);
  8. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2024 (02 tập);
  9. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2024 (02 tap),
  10. Tập hợp đồng mua bán hàng hóa 2023 + 2024 (01 tập);
  11. Tập hợp đồng lao động năm 2023 + 2024 (01 tập);
  12. Sao kê tài khoản của Hợp tác xã N tại Ngân hàng L1 từ ngày 01/01/2023 - 31/12/2024.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[8] Những vấn đề khác của vụ án:

  1. Đối với Hà Thị B1, Bùi Đình T, Đinh Văn Q1, Ma Văn K1, Nguyễn Thị Lan A, Đinh Thị K là thành viên góp vốn theo Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã, kết quả điều tra xác định Q mượn giấy tờ tùy thân của các cá nhân nêu trên rồi tự đứng ra làm thủ tục đăng ký thành lập Hợp tác xã N, các cá nhân này không được bàn bạc, không giam gia góp vốn, không tham gia vào việc quản lý, điều hành và không được chia lợi nhuận từ doanh thu của Hợp tác xã N nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  2. Đối với Trần Thị S, kết quả điều tra xác định S giúp bị cáo Đinh Văn Q soạn thảo các hợp đồng lao động, lập các chức từ thanh toán tiền lương, phụ cấp và giúp Q thực hiện thủ tục kê khai thuế. Kết quả điều tra xác định S không làm việc tại Hợp tác xã nên không biết việc Đinh Văn Q cung cấp thông tin không đúng sự thật để trốn thuế, S không biết, không được bàn bạc và không được hưởng lợi từ hành vi trốn thuế của Đinh Văn Q nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  3. Đối với các cá nhân Giàng A M, Lù Văn B, Lỳ Sì H1, Ly Pó D, Lò Văn Á, Hù Cố D1, Ly Xé M và Ly Phì C, kết quả điều tra xác định những cá nhân này không biết việc bị can Đinh Văn Q sử dụng thông tin cá nhân của mình để lập khống hợp đồng, do đó không đặt vấn đề xem xét, xử lý với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm d khoản 2 Điểu 200; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Các Điều 106, 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Đinh Văn Q.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Q phạm tội “Trốn thuế”.
  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần.

    Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Đinh Văn Q.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền trốn thuế là 292.220.442 đồng cho T1 cơ sở 4 Lai Châu. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra theo biên bản giao nhận ngày 24/10/2025. Hiện số tiền trên đang được lưu giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu tại số tài khoản 394901054198 mở tại Kho bạc nhà nước khu vực IX tỉnh L.(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh L và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu vào hồi 15 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu).
  5. Về xử lý vật chứng là tài liệu trong hồ sơ vụ án: Lưu giữ vào hồ sơ vụ án toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án gồm:
    1. Toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp phép, thành lập Hợp tác xã N liên quan đến Điều lệ tổ chức, Danh sách thành viên góp vốn, Giấy đề nghị đăng ký, Biên bản họp
    2. Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã lần đầu ngày 08/01/2020, đăng ký thay đổi lần 1, lần 2, lần 3, lần 4, lần 5 ngày 29/8/2025 (01 tập, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kinh tế xã B, tỉnh Lai Châu);
    3. Báo cáo tài chính, Tờ khai thuế, Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023, 2024 của của Hợp tác xã N (01 tập có đóng dấu giáp lai của T tỉnh Lai Châu);
    4. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2023 (01 tập, có đóng dầu đỏ của Hợp tác xã N vào từng sổ);
    5. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2023 (01 tập);
    6. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2023 (02 tập);
    7. Sổ nhật ký chung và các sổ chi tiết tài khoản năm 2024 (01 tập, có đóng dấu đỏ của Hợp tác xã N vào từng số);
    8. Chứng từ chi tiền lương, chứng từ chi tiền phụ cấp năm 2024 (02 tập);
    9. Tập chứng từ đầu vào + Hóa đơn giá trị gia tăng xuất ra năm 2024 (02 tap),
    10. Tập hợp đồng mua bán hàng hóa 2023 + 2024 (01 tập);
    11. Tập hợp đồng lao động năm 2023 + 2024 (01 tập);
    12. Sao kê tài khoản của Hợp tác xã N tại Ngân hàng L1 từ ngày 01/01/2023 - 31/12/2024.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thuế cơ sở 4 Lai Châu có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc hoàn trả số tiền trốn thuế trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm 1-TAND Tối cao;
  • - Viện phúc thẩm 1- VKSND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

(Ký tên)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HSST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 04/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger