Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Bản án số: 04/2026/HSST
Ngày 14/01/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Sơn

Ông Nguyễn Quang Xuyên - Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Sầm Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai tại 02 điểm cầu ( điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An và điểm cầu thứ hai là Trại tạm giam công an tỉnh N) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2025/TLST- HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm Q, xã V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo:Không; Con ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản theo quyết định số 1889; chấp hành xong ngày 01/6/2010.

Ngày 12/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 45/2013/HSST; Đã chấp hành xong bản án.

Ngày 30/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 54/2015/HSST, Đã chấp hành xong bản án

Ngày 27/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 58/2015/HSST. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù tại Bản án 54/2015/HSST ngày 30/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội buộc phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 06 năm tù. Chấp hành xong bản án ngày 22/11/2020. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Hà P, sinh năm 2009; Nơi cư trú: Xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Hà P: Bà Lê Thị L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bà Võ Thị N, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trịnh Văn Q, sinh năm 1999; đại chỉ: Khối C, phường T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Anh Đặng Trọng Đ, sinh năm 1997; đại chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Xóm P, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong các ngày 03/9/2025, 05/9/2025, Nguyễn Ngọc M đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã V, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 03 giờ 40 phút ngày 03/9/2025, Nguyễn Ngọc M đi bộ từ nhà mình theo hướng quốc lộ D đến xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến nhà bà Võ Thị N, sinh năm 1967, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An, M thấy cửa cổng không khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi M đi vào phòng khách, thấy trên kệ tivi có 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng đang sạc nên đã rút dây sạc lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi về. Đến 13 giờ cùng ngày 03/9/2025, M đem chiếc điện thoại đã trộm cắp được bán cho Trịnh Văn Q, sinh năm 1999, trú tại khối C, phường T, tỉnh Nghệ An với giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền này M đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại từ M thì Q đã bán lại chiếc điện thoại nói trên cho một người không quen biết nên không thu hồi được.

Ngày 19/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định trưng cầu định giá chiếc điện thoại mà M đã chiếm đoạt của của chị Võ Thị N. Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, tỉnh Nghệ An kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng, IMEI: 869511069560759, không gắn thẻ sim, được đưa vào sử dụng từ ngày 23/3/2025, đang hoạt động bình thường tại thời điểm ngày 03/9/2025 có giá trị là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).”

Vụ thứ hai: Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 03/9/2025, Nguyễn Ngọc M đi qua nhà chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 1997, trú tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, nên M trèo qua bờ rào rồi đi vào trong phòng khách thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO Renno 11, màu xanh đen, gắn số điện thoại 0962210416 của chị T1 đang để trên bàn, M lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi của mình rồi đi về. Đến 13 giờ cùng ngày 03/9/2025, M đem chiếc điện thoại đã trộm cắp được bán cho Trịnh Văn Q (sinh năm 1999, trú tại khối C, phường T, tỉnh Nghệ An với giá 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng), vì không đủ tiền mặt để trả cho M nên Q mới trả cho M số tiền 1.100.000 đồng, số tiền này M đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại từ M thì Q đã bán lại chiếc điện thoại nói trên cho một người không quen biết nên không thu hồi được.

Ngày 19/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định trưng cầu định giá chiếc điện thoại mà M đã chiếm đoạt của của chị Võ Thị N. Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, tỉnh Nghệ An kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO Reno 11F 5G, màu xanh đen, gắn thẻ sim số 0962210416, được đưa vào sử dụng từ tháng 3/2024 đang còn sử dụng bình thường tại thời điểm ngày 03/9/2025 có giá trị là 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ ba: Vào hồi 04 giờ 30 phút ngày 05/9/2025, Nguyễn Ngọc M đi bộ từ nhà mình theo hướng đi xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An. Khi đến gần nhà chị Lê Thị L, sinh năm 1977, trú tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An, M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi vào sân, M phát hiện thấy cháu Nguyễn Thị Hà P, sinh năm 2009, trú tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An đang ở trong nhà vệ sinh (tại gian nhà ngang), trong gian nhà chính không có người nên đã vào phòng ngủ của cháu P lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 11 pro max, màu xanh, gắn số điện thoại 0898461958, có ốp trong suốt, phía bên trong có 01 tờ tiền Đài Loan mệnh giá 100 Đ, bỏ vào túi quần rồi đi về nhà mở ốp điện thoại lấy 01 tờ tiền Đài Loan mệnh giá 100 Đ bỏ vào ví của mình, tháo thẻ sim và vỏ ốp điện thoại vứt đi. Đến ngày 06/9/2025, M đem chiếc điện thoại đã trộm cắp được bán cho Trịnh Văn Q, sinh năm 1999, trú tại khối C, phường T, tỉnh Nghệ An với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), vì không có tiền mặt nên Q nói với M sẽ chuyển khoản cho M sau thì M đồng ý. Sau khi mua điện thoại của M thì Q đã bán cho anh Đặng Trọng Đ, sinh năm 1997, trú tại xóm Đ xã Q, tỉnh Nghệ An với số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đến ngày 07/9/2025, M đến ki ốt của chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1971, thuộc xóm P, xã V, tỉnh Nghệ An nhờ bà H1 đổi tiền tài khoản lấy tiền mặt thì chị H1 đồng ý. Sau đó, M liên lạc với Q và gửi số tài khoản ngân hàng T2 số 19036562642019, mang tên Nguyễn Thị Ngọc L1 (là con gái của chị Nguyễn Thị Thu H1) cho Q để Q chuyển tiền đã mua điện thoại cho mình. Sau đó anh Trịnh Văn Q đã dùng tài khoản cá nhân chuyển cho M số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); (bao gồm cả số tiền 1.500.000 đồng mà Q mua điện thoại của M chưa thanh toán vào ngày 03/9/2025 và số tiền 1.500.000 đồng tiền mua điện thoại lần này) vào số tài khoản nói trên, sau khi nhận được tiền thì M đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 19/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định trưng cầu định giá chiếc điện thoại, ốp điện thoại và 01 thẻ sim mà M đã chiếm đoạt của của chị Nguyễn Thị Hà P. Tại Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An, kết luận:

“- 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, bản 64GB, số máy: MWGJ2LL/A, số seri: G6TZQAYDN70G, số IMEI: 353889106608457, máy đã qua sử dụng; tại thời điểm tháng 9 năm 2025 có giá trị là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng chẵn).

- 01 (một) chiếc thẻ sim điện thoại số 0898461958; tại thời điểm tháng 9 năm 2025 có giá trị là: 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng chẵn).

- 01 (một) chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa, viền ốp màu đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 9 năm 2025 có giá trị là: 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng chẵn).”

Tại Công văn số 2114/KV8-TH ngày 08/10/2025 của Ngân hàng N1 khu vực 8, xác định:

“- Tỷ giá tính chéo của Đ2 so với Nhân dân tệ Trung Quốc áp dụng tính thuế xuất khẩu được Ngân hàng N1 công bố trên websize sbv.gov.vn, Mục Tỷ giá/Tỷ giá tính chéo của Đ2 với một số ngoại tệ để xác định giá trị tính thuế. Để tra cứu thông tin về tỷ giá chi tiết từng ngày cụ thể, đề nghị quý Cơ quan truy cập và khai thác tại địa chỉ websize nêu trên.

- Thông tin tỷ giá tính chéo của Đ2 so với Nhân dân tệ Trung Quốc để xác định trị giá tính thuế từ ngày 04/9/2025 đến 10/9/2025 là 1 CNY = 3.535,8 VNĐ”

Tại bản kết luận giám định số: 129/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

“01 (một) tờ tiền Đài Loan mệnh giá 100 Đài tệ (một trăm Đài tệ), có mã số ký hiệu WC485188NZ gửi giám định là tiền thật.”

Như vậy, 100 Đài tệ x 3.535,8 VNĐ = 353.580 đồng (Ba trăm năm mươi mươi ba nghìn năm trăm mươi đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Ngọc M đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hà P là 7.443.580 đồng (Bảy triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm tám mươi đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại Võ Thị N yêu cầu Nguyễn Ngọc M bồi thường số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); Chị Nguyễn Thị Quỳnh T1 yêu cầu Nguyễn Ngọc M bồi thường số tiền 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)

Bị hại cháu Nguyễn Thị Hà P và người đại diện hợp pháp của bị hại đã được trả lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Văn Q, anh Đặng Trọng Đ, bà Nguyễn Thị Thu H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, bản 64GB, số máy: MWGJ2LL/A, số seri: G6TZQAYDN70G, số IMEI: 353889106608457 do Đặng Trọng Đ giao nộp; 01 tờ tiền Đài loan mệnh giá 100 Đài tệ, có số seri WC485188NZ do Nguyễn Ngọc M giao nộp; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Hà P.

Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Ngọc M: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Mastel, IMEI1: 352766248302366, IMEI2: 352766248302374, gắn thẻ sim nhãn hiệu Vietnamobile có dãy số 1613236164 đã qua sử dụng; 01 (một) ví da màu đen bên trong có: 01 (một) thẻ sim, nhãn hiệu 5G Vinaphone, có dãy số 04180; 01 thẻ sim, nhãn hiệu Vietnamobile, có dãy số 1613236156; 01 (một) thẻ sim, nhãn hiệu Vietnamobile, có dãy số 1726312614; 01(một) mảnh giấy hình chữ nhật, kích thước (8,2x4,5) cm, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng có ghi dãy số 0877713386; 01 (một) đơn thuốc hình chữ nhật, kích thước (14,5x19,5) cm, mặt sau đơn thuốc có ghi các dãy số “Đ.T: 0845655537”, “Lâm: 0853756818”, “Lợn: 0967914681”;01 (một) mảnh giấy, kích thước (6,3x3)cm, một mặt ghi dãy số “0382967777 đánh ghen”; 01 tờ tiền có chữ nước ngoài (chữ Trung Quốc), có số seri F4Z3544234; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (chữ Hàn Quốc), có số seri DA 3825004F; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “SINGAPORE”), có số seri 5AB621272; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “BAN K1 NEGARA MALAYSIA”), có số seri GZ3195741; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “K1 OF CAMBODIA”), có số seri 6680585; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai đồng, số seri AB 4911561; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá năm trăm đồng, số seri KG 9373896; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá năm trăm đồng, số seri KF 5746312; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri YM 6848527; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri EG 3601255; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri UL 4299405 thu giữ của Nguyễn Ngọc M. Quá trình điều tra, các đồ vật này không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho Nguyễn Ngọc M.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-KV5 ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An truy tố Nguyễn Ngọc M về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M mức án từ 18 đến 21 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M bồi thường số tiền 2.500.000đồng cho bà Võ Thị N; bồi thường 4.050.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Quỳnh T1.

Bị hại cháu Nguyễn Thị Hà P và người đại diện hợp pháp của cháu P đã được trả lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Văn Q, anh Đặng Trọng Đ, bà Nguyễn Thị Thu H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Ngọc M thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tự bào chữa , không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc M đồng ý bồi thường số tiền số tiền 2.500.000đồng cho bà Võ Thị N; bồi thường 4.050.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Quỳnh T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với lời khai bị hại;người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp bản kết luận định giá tài sản; bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 03/9/2025 và ngày 05/9/2021, Nguyễn Ngọc M đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã V, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:.

Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ 40 phút ngày 03/9/2025 tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ngọc M đã có hành lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng có trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) của bà Võ Thị N, sinh năm 1967, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An.

Vụ thứ hai: Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 03/9/2025 tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ngọc M đã có hành lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO Renno 11, màu xanh đen có trị giá 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 1997, trú tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An.

Vụ thứ ba: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 05/9/2025 tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ngọc M đã có hành lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, có trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng); 01 (một) chiếc thẻ sim điện thoại số 0898461958 có trị giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa, viền ốp màu đen, có trị giá 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng); 100 Đài tệ có trị giá 353.580 đồng (Ba trăm năm mươi mươi ba nghìn năm trăm mươi đồng) của cháu Nguyễn Thị Hà P, sinh năm 2009, trú tại xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An.

Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Ngọc M chiếm đoạt là 13.993.580 đồng (Mười ba triệu, chín trăm chín mươi ba nghìn, năm trăm tám mươi đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 12/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 27/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù tại Bản án 54/2015/HSST ngày 30/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội buộc phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù.

Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, bản 64GB, số máy: MWGJ2LL/A, số seri: G6TZQAYDN70G, số IMEI: 353889106608457 do Đặng Trọng Đ giao nộp; 01 tờ tiền Đài loan mệnh giá 100 Đài tệ, có số seri WC485188NZ do Nguyễn Ngọc M giao nộp; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Hà P là đúng pháp luật.

Về 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Mastel, IMEI1: 352766248302366, IMEI2: 352766248302374, gắn thẻ sim nhãn hiệu Vietnamobile có dãy số 1613236164 đã qua sử dụng; 01 (một) ví da màu đen bên trong có: 01 (một) thẻ sim, nhãn hiệu 5G Vinaphone, có dãy số 04180; 01 thẻ sim, nhãn hiệu Vietnamobile, có dãy số 1613236156; 01 (một) thẻ sim, nhãn hiệu Vietnamobile, có dãy số 1726312614; 01(một) mảnh giấy hình chữ nhật, kích thước (8,2x4,5) cm, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng có ghi dãy số 0877713386; 01 (một) đơn thuốc hình chữ nhật, kích thước (14,5x19,5) cm, mặt sau đơn thuốc có ghi các dãy số “Đ.T: 0845655537”, “Lâm: 0853756818”, “Lợn: 0967914681”;01 (một) mảnh giấy, kích thước (6,3x3)cm, một mặt ghi dãy số “0382967777 đánh ghen”; 01 tờ tiền có chữ nước ngoài (chữ Trung Quốc), có số seri F4Z3544234; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (chữ Hàn Quốc), có số seri DA 3825004F; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “SINGAPORE”), có số seri 5AB621272; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “BAN K1 NEGARA MALAYSIA”), có số seri GZ3195741; 01 (một) tờ tiền có chữ nước ngoài (có dòng chữ “K1 OF CAMBODIA”), có số seri 6680585; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai đồng, số seri AB 4911561; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá năm trăm đồng, số seri KG 9373896; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá năm trăm đồng, số seri KF 5746312; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri YM 6848527; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri EG 3601255; 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai trăm đồng, số seri UL 4299405 thu giữ của Nguyễn Ngọc M không liên quan đến việc phạm tội, do đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho Nguyễn Ngọc M là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Võ Thị N yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000đồng;chị Nguyễn Thị Quỳnh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường 4.050.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường số tiền số tiền 2.500.000đồng cho bà Võ Thị N; bồi thường 4.050.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, do đó ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo bồi thường số tiền nói trên cho các bị hại.

Bị hại cháu Nguyễn Thị Hà P và người đại diện hợp pháp của cháu P đã được trả lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Văn Q, anh Đặng Trọng Đ, bà Nguyễn Thị Thu H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/9/2025, Công an xã V tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Nguyễn Ngọc M, kết quả, Nguyễn Ngọc M dương tính với chất ma tuý. Tuy nhiên, qua xác minh tại xã V, tỉnh Nghệ An thì Nguyễn Ngọc M không thuộc đối tượng quản lý về ma tuý quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó, Nguyễn Ngọc M không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 256a, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc M là đúng pháp luật.

Đối với anh Trịnh Văn Q có hành vi mua lại các điện thoại di động mà Nguyễn Ngọc M bán. Tuy nhiên, khi mua các tài sản này anh Trịnh Văn Q không biết số tài sản trên là do Nguyễn Ngọc M trộm cắp mà có. Anh Nguyễn Trọng Đ1 là người mua lại điện thoại từ anh Trịnh Văn Q, nhưng Đ1 không biết tài sản do phạm tội mà có, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với anh Q, anh Đ1 là đúng pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị Thu H1 là người được M nhờ nhận hộ tiền do Trịnh Văn Q chuyển đến sau đó chuyển lại tiền cho M. Quá trình điều tra xác định bà H1 không biết nguồn gốc số tiền nhận hộ M là tiền do phạm tội mà có, vì vậy Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với bà H1 là đúng pháp luật..

Theo lời khai của M thì còn có người đàn ông tên Q1 là người đã bán ma tuý cho M, quá trình điều tra M không cung cấp được chính xác định họ, tên, tuổi địa chỉ của người này, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1.Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Ngọc M phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

2.Xử phạt: Nguyễn Ngọc M 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/9/2025.

3.Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M phải bồi thường số tiền 4.050.000 đồng (Bốn triệu, không trăm năm mươi ngàn) cho chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm S, xã V, tỉnh Nghệ An.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M phải bồi thường số tiền 2.500.000đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn) đồng cho bà Võ Thị N, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4.Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm và 328.000 đồng (Ba trăm hai mươi tám ngàn) án phí dân sự sơ thẩm

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND Khu vực 5 – Nghệ An;
- Phòng PV 06 Công an tỉnh Nghệ An;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Nghệ An;
- Bị cáo;
- Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại;
- Người có QLNVLQ;
- UBND xã Vạn An, tỉnh Nghệ An
(thay thông báo)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Văn Dũng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/HSST ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 04/2026/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Nguyễn Ngọc M trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger