Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG


Bản án số: 04/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 01 - 2026
"V/v Ly hôn"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tuấn Vĩnh
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Hoàng Minh Tuấn
    • Bà Nguyễn Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Chung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2025; về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2026/QĐST-ST, ngày 05 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1976; căn cước công dân số: 002176000998, cấp ngày: 13/4/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Trần Xuân H1, sinh năm 1976; căn cước công dân số: 036076015527, cấp ngày: 05/11/2021; nơi cấp: Cục C1 - Bộ C; “vắng mặt lần 2, không có lý do”.

Cùng địa chỉ cư trú: Thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2025 và tại phiên toà chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh Trần Xuân H1 tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2000, trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) vào ngày 24/01/2000. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc với nhau được khoảng tám năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình; việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả; do mâu thuẫn vợ chồng nên đến năm 2008 anh H1 đã bỏ đi làm ăn nay đây, mai đó và anh chị đã sống ly thân kể từ đó cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm gì đến nhau nữa; chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy chị làm đơn đề nghị Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Xuân H1 theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có hai con chung là cháu Trần Thu T, sinh ngày 23/9/2001 và cháu Trần Thúy T1, sinh ngày 09/11/2003. Hiện nay các cháu đều đã trên 18 tuổi, đã trưởng thành và phát triển bình thường; vì vậy khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Xuân H1 vắng mặt, anh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không nộp bản tự khai và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án cho Tòa án. Tòa án đã giao Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập cho cháu Trần Thu T, sinh năm 2001 là con chung của chị Đỗ Thị H và anh Trần Xuân H1, cháu T đã nhận văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh H1 được biết việc chị H yêu cầu ly hôn anh H1. Anh Trần Xuân H1 nhiều lần vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại các Biên bản xác minh ngày 08/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang với Trưởng thôn 11, xã B và Chuyên viên Văn phòng UBND - HĐND phụ trách lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch xã B, tỉnh Tuyên Quang nơi chị Đỗ Thị H và anh Trần Xuân H1 sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau: Chị Đỗ Thị H và anh Trần Xuân H1 tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2000, trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) vào ngày 24/01/2000. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được khoảng tám năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình; việc mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả; do mâu thuẫn vợ chồng nên đến năm 2008 anh H1 đã bỏ đi làm ăn nay đây, mai đó và vợ chồng anh chị đã sống ly thân kể từ đó cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Trần Thu T, sinh ngày 23/9/2001 và cháu Trần Thúy T1, sinh ngày 09/11/2003. Hiện nay các cháu đều đã trên 18 tuổi, đã trưởng thành và phát triển bình thường, khi ly hôn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung, do chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chúng tôi không cung cấp thông tin gì thêm.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Trần Xuân H1; Về việc nuôi con chung: Do cháu Trần Thu T, sinh ngày 23/9/2001 và cháu Trần Thúy T1, sinh ngày 09/11/2003, hiện nay các cháu đều đã trên 18 tuổi, đã trưởng thành và chị H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét; Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề cập xem xét; Về án phí: Nguyên đơn là chị Đỗ Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, bị đơn là anh Trần Xuân H1 không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do chị Đỗ Thị H có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền theo cấp xét xử thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội. Bị đơn anh Trần Xuân H1 có nơi cư trú tại thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thẩm quyền theo lãnh thổ là Tòa án nơi bị đơn cư trú nên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án thông qua cháu Trần Thu T, sinh năm 2001 là con chung của chị H và anh H1, anh Trần Xuân H1 nhận văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh H1 vẫn không có mặt và cũng không có ý kiến gì về việc chị Đỗ Thị H yêu cầu ly hôn. Xét thấy Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn anh Trần Xuân H1 vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Xuân H1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Trần Xuân H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/01/2000 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) nên hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.

[4] Xét về tình trạng hôn nhân: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc với nhau được khoảng tám năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình; việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả; do mâu thuẫn vợ chồng nên đến năm 2008 anh H1 đã bỏ đi làm ăn nay đây, mai đó và anh chị đã sống ly thân kể từ đó cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình giải quyết, mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho anh H1 nhưng anh H1 vẫn vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị H. Chị H xác định không còn tình cảm với anh H1, vợ chồng sống ly thân trong thời gian rất dài nên chị H kiên quyết xin ly hôn. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị H không tạo điều kiện để tiếp tục chung sống. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H.

[5] Về việc nuôi con chung: Thời gian chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Trần Thu T, sinh ngày 23/9/2001 và cháu Trần Thúy T1, sinh ngày 09/11/2003, hiện nay các cháu đều đã trên 18 tuổi, đã trưởng thành và phát triển bình thường, khi ly hôn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị H. Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Trần Xuân H1.
  2. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang theo biên lai thu số: 0001347, ngày 12/11/2025.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND khu vực 5 - Tuyên Quang;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Tuyên Quang;
  • - UBND xã Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hà Tuấn Vĩnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang về ly hôn

  • Số bản án: 04/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị H. Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Trần Xuân H1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger