Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14 – CẦN THƠ


Bản án số: 04/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 12 – 01 – 2026

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Thanh
  2. Ông Nguyễn Văn Trương

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 187/2025/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; Căn cước công dân số: 093188004302 – Có mặt.

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Huỳnh Anh T1, sinh năm 1980; Căn cước công dân số: 072080012579 – Có mặt.

Nơi thường trú: Ấp T, phường G, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: Ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Tôi và ông Huỳnh Anh T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 37/TP, quyển số 01/2009, ngày 30/12/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 09/2025 thì vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung nên hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không đạt được nên đã ly thân từ tháng 10 năm 2025 đến nay. Tôi nhận thấy không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 01 con chung là Huỳnh Gia H, giới tính: nam; sinh ngày 11/3/2013. Tôi yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu ông T1 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung thì tôi cũng đồng ý, tôi không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng còn 02 chưng hụi và 01 bộ vòng Simen vàng 18K do tôi đang giữ, tôi đồng ý giao lại cho ông T1 sau khi vợ chồng ly hôn. Tôi đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Huỳnh Anh T1 trình bày:

Tôi thống nhất phần trình bày của bà T về thời gian tiến tới hôn nhân, thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống với nhau. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có cự cãi nhau. Vào tháng 08 năm 2025 vợ chồng có cự cãi với nhau, sau đó vợ và con về nhà cha mẹ vợ sinh sống cho đến nay, đồng thời yêu cầu ly hôn với tôi. Hiện tại tôi còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn, nếu vợ nhất quyết ly hôn thì tôi cũng đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung là Huỳnh Gia H; giới tính: Nam; sinh ngày 11/3/2013. Tôi yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng còn 02 chưng hụi và 01 bộ vòng Simen hiện bà T đang giữ. Nếu bà T đồng ý giao lại cho tôi số tài sản nêu trên thì tôi đồng ý vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, chấp thuận cho bà T được ly hôn với ông T1;

Về con chung: Giao con chung là cháu H cho bà T nuôi dưỡng, do bà T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ông T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Huỳnh Anh T1 và có tranh chấp về nuôi con. Ông T1 tạm trú xã P, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T: Giữa bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Anh T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà T cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên từ khoảng tháng 09/2025 thì vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung nên hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1. Ông T1 cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có cãi nhau, sau đó ly thân và bà T yêu cầu ly hôn. Hiện tại ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Xét thấy, quá trình hôn nhân giữa bà T và ông T1 có phát sinh mâu thuẫn do cách cư xử đối với nhau, nhưng không có biện pháp hòa giải mâu thuẫn, từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và ly thân với nhau. Từ lúc ly thân đến nay bà T và ông T1 cũng không có biện pháp hòa giải, ông T1 cho rằng còn thương vợ, không muốn ly hôn nhưng cũng không có biện pháp hữu hiệu để hàn gắn quan hệ vợ chồng mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm. Tại phiên tòa, bà T xác định không còn tình cảm với ông T1 nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, ông T1 cũng đồng ý ly hôn với bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung là Huỳnh Gia H, giới tính: Nam, sinh ngày 11/3/2013. Tại phiên tòa, ông T1 và bà T đều thừa nhận thu nhập của mỗi người đều đủ khả năng để nuôi con và có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ lúc ly thân đến nay cháu H do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, về điều kiện kinh tế bà T đủ khả năng để nuôi con, đối với cháu H có nguyện vọng được chung sống cùng mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, nhằm tránh xáo trộn về nơi ở cũng như đảm bảo nguyện vọng của con, vì lợi ích tốt nhất của con nên Hội đồng xét xử giao cháu H cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng. Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ông T1 chưa phải cấp dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T1, không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông T1 sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Huỳnh Anh T1.

2. Về con chung: Giao cháu là Huỳnh Gia H, giới tính: Nam, sinh ngày 11/3/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông T1, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Bà T và ông T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4. Về nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007717 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà T đã nộp xong án phí.

6. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND TP Cần Thơ;

- THA dân sự TP Cần Thơ;

- VKSND khu vực 14 – Cần Thơ;

- UBND xã Phú Hữu;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 04/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger